Thực tế trên thị trường hiện nay, tình trạng buôn bán phân bón giả, phân bón kém chất lượng diễn biến phức tạp, gây thiệt hại lớn cho người nông dân và các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước[1]. Mặc dù, doanh nghiệp đã vượt qua cả “chặng đường dài” để được đưa vào danh mục nhưng tình trạng phân bón giả, kém chất lượng vẫn xảy ra.
“Chuỗi thủ tục” trong sản xuất, kinh doanh phân bón …
Theo quy định pháp luật hiện hành, cá nhân, tổ chức chỉ được phép sản xuất, kinh doanh phân bón có tên trong Danh mục phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam được ban hành trong từng thời kỳ. Để đưa phân bón mới vào danh mục, doanh nghiệp phải thực hiện lộ trình: đăng ký nhập khẩu đối với loại ngoài danh mục, kiểm nghiệm, khảo nghiệm, thành lập Hội đồng khoa học thẩm định, công nhận và cuối cùng chờ đưa vào danh mục. Việc khảo nghiệm hiện mất khoảng từ 6 tháng đến 01 năm, trong khi nhiều loại phân bón đưa ra khảo nghiệm chỉ khác rất ít về thành phần dinh dưỡng so với hơn 3500 loại đã có trong Danh mục. Mặt khác, sau khi có kết quả khảo nghiệm phải mất thêm ít nhất 03 tháng thực hiện thủ tục thẩm định, công nhận để đưa vào danh mục. Toàn bộ khoảng thời gian thực hiện “chuỗi” thủ tục trên sẽ làm mất tính thời sự của sản phẩm phân bón sản xuất ra hoặc nhập khẩu vì mùa vụ đã hết, nguyên liệu chờ trong kho bị giảm chất lượng, các khoản đầu tư của doanh nghiệp sẽ chậm thu hồi vốn.
... liệu có còn phù hợp?
Theo cơ quan quản lý, việc thực hiện quy trình khảo nghiệm, đánh giá, công nhận là bước tiền kiểm nhằm mục đích đánh giá hiệu lực nông học của phân bón để đảm bảo khi đưa ra sản xuất, kinh doanh đem lại hiệu quả cho người sử dụng, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Việc tăng cường quản lý nhà nước đối với phân bón để người nông dân được sử dụng phân bón bảo đảm chất lượng là hết sức cần thiết. Thực tế trên thị trường hiện nay, tình trạng buôn bán phân bón giả, phân bón kém chất lượng diễn biến phức tạp, gây thiệt hại lớn cho người nông dân và các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước[2]. Mặc dù, doanh nghiệp đã vượt qua cả “chặng đường dài” để được đưa vào danh mục nhưng tình trạng phân bón giả, kém chất lượng vẫn xảy ra. Như vậy, hiệu quả của phương thức quản lý hiện hành chưa hạn chế được rủi ro cho việc quản lý chất lượng phân bón, nhưng lại là một rào cản hành chính đối với doanh nghiệp.
Phương thức quản lý mới
Theo quy định của Luật Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn quy định về đặc tính kỹ thuật; quy chuẩn quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hóa phải tuân thủ để đảm bảo an toàn, vệ sinh, sức khỏe con người, bảo vệ động thực vật và môi trường, bảo vệ quyền và lợi ích của người tiêu dùng. Để phát hiện ra phân bón giả, kém chất lượng, chúng ta phải thực hiện việc kiểm tra chất lượng dựa trên các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về quản lý, sử dụng phân bón. Như vậy, loại phân bón nào khi đạt được các yêu cầu về tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định thì đã đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu để đưa vào sản xuất, kinh doanh và sử dụng. Do đó, đối với phân bón, đưa ra các tiêu chuẩn, quy chuẩn, phương pháp lấy mẫu và phân tích mẫu về chất lượng, hàm lượng các chất độc hại vẫn giúp quản lý tốt chất lượng phân bón để đưa ra sản xuất, kinh doanh thay thế cho phương thức như hiện nay. Mặt khác, trên thế giới, phương thức quản lý phân bón theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đã được các nước như: Mỹ, EU, Nhật Bản, Ấn Độ[3], ... áp dụng từ nhiều năm nay.
Với cách tiếp cận này, Đề án 30 đã rà soát và đề xuất phương thức quản lý sản xuất, kinh doanh phân bón theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, và được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 15/12/2010, cụ thể:
(1) Đối với phân bón nhập khẩu thuộc nhóm có khả năng gây mất an toàn, sẽ xây dựng, ban hành quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia (trong đó quy định rõ giới hạn thấp nhất các yếu tố dinh dưỡng và giới hạn tối đa đối với các yếu tố độc hại) và công nhận, chỉ định các phòng phân tích, thử nghiệm chất lượng. Hàng hóa nhập khẩu thực hiện kiểm tra nhà nước về chất lượng[4] và được thông quan trong trường hợp kết quả phân tích các yếu tố độc hại dưới mức quy định, yếu tố dinh dưỡng trên mức quy định hoặc yêu cầu tái xuất trong trường hợp kết quả phân tích không phù hợp. Đồng thời, quy định hàng nhập khẩu được tạm thời lưu tại kho của nhà nhập khẩu để giảm chi phí, thời gian lưu kho, lưu bãi tại Hải quan khi chờ kết quả phân tích; nghiên cứu thực hiện chế độ giảm kiểm tra đối với các lô hàng hóa tiếp theo nếu cùng sản phẩm và cùng nhà nhập khẩu; nghiên cứu áp dụng chế độ công nhận lẫn nhau giữa các quốc gia về giấy chứng nhận (kết quả phân tích) chất lượng do cơ quan Giám định độc lập tại nước xuất khẩu cấp nhằm giảm thời gian kiểm tra, phân tích, thông quan hàng hóa.
(2) Đối với phân bón sản xuất trong nước, thực hiện tự thoả thuận hoặc ký kết hợp đồng với đơn vị thực hiện khảo nghiệm phân bón để khảo nghiệm, đánh giá hiệu lực nông học của phân bón. Phân bón mới sẽ thực hiện chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy theo quy định. Cơ quan có thẩm quyền thực hiện kiểm tra nhà nước về hàm lượng dinh dưỡng và các chất độc hại, vi sinh vật gây hại theo các chỉ tiêu quy định của Quy chuẩn kỹ thuật theo phương thức thử nghiệm mẫu điển hình và đánh giá quá trình sản xuất; giám sát thông qua thử nghiệm lấy mẫu tại nơi sản xuất kết hợp với đánh giá quá trình sản xuất.
Hiện nay, Bộ NN&PTNN đang hoàn thiện dự thảo Nghị định của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 113/2003/NĐ-CP về quản lý sản xuất kinh doanh phân bón và Nghị định số 191/2007/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 113, đưa nội dung cải cách đi vào cuộc sống.
[1] Theo công bố của Cục Trồng trọt tại hội nghị sơ kết công tác thanh tra, kiểm tra phân bón tổ chức tại Khánh Hòa ngày 24/5/2010, có trên 50% số lượng phân bón kém chất lượng đã được phát hiện trong năm 2009 và 4 tháng đầu năm 2010, thậm chí lên tới 80% ở một số địa phương; một con số đáng báo động đối với nước ta khi nhu cầu sử dụng phân bón lên tới gần 10 triệu tấn/năm.
[2] Theo công bố của Cục Trồng trọt tại hội nghị sơ kết công tác thanh tra, kiểm tra phân bón tổ chức tại Khánh Hòa ngày 24/5/2010, có trên 50% số lượng phân bón kém chất lượng đã được phát hiện trong năm 2009 và 4 tháng đầu năm 2010, thậm chí lên tới 80% ở một số địa phương; một con số đáng báo động đối với nước ta khi nhu cầu sử dụng phân bón lên tới gần 10 triệu tấn/năm.
[3] Tại các nước Mỹ, EU, Nhật Bản, Ấn Độ, Đài Loan,... việc quản lý phân bón được thực hiện theo phương thức: (1) Quy định giới hạn thấp nhất các yếu tố dinh dưỡng đối với các chất dinh dưỡng đa lượng, trung lượng và vi lượng có trong phân bón; (2) Quy định giới hạn tối đa đối với các kim loại nặng như Asen (As), Cadimi (Cd), Thuỷ ngân (Hg), Chì (Pb), các vi sinh vật gây hại có trong phân bón; (3) Các loại phân bón trước khi sản xuất, kinh doanh phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về chủng loại, thành phần và thành phần định lượng các chất dinh dưỡng, nguyên liệu sử dụng, các chất phụ gia….; (4) Đưa ra các tiêu chuẩn, quy chuẩn, phương pháp lấy mẫu và phân tích mẫu về chất lượng phân bón, hàm lượng các chất độc hại; (5) Đưa ra các mức phạt đối với các vi phạm về chất lượng và các vi phạm khác.
[4] Theo phương thức quản lý bằng danh mục, đối với phân bón mới nhập khẩu phải thực hiện quy trình khảo nghiệm, công nhận, đưa vào danh mục. Sau khi có tên trong danh mục, khi nhập khẩu vẫn phải thực hiện kiểm tra nhà nước về chất lượng như phương thức mới và nếu đạt yêu cầu mới được thông quan.
Nguyễn Hùng Huế
Phòng KSTTHC khối Kinh tế ngành
(Chuyên mục hợp tác giữa Cục kiểm soát TTHC và Báo DĐDN)