Ông
Phạm Hồng Hải, Giám đốc Tiền tệ và thị trường vốn HSBC Việt Nam chia sẻ
ý kiến về việc NHNN sẽ xếp loại nhóm ngân hàng để giao chỉ tiêu tăng
trưởng tín dụng.
Theo ông, hành động trên của NHNN liệu có hợp lý?
Việc
giao chỉ tiêu tín dụng theo nhóm tổ chức tín dụng (TCTD) tùy thuộc vào
sức khỏe của các TCTD là hợp lý. Chúng ta không nên cào bằng chỉ tiêu
tăng trưởng tín dụng cho toàn bộ hệ thống. Các TCTD có sức mạnh tài
chính và phát triển lành mạnh nên được giao chỉ tiêu tăng trưởng tín
dụng nhiều hơn các TCTD yếu kém. Khi các TCTD tốt có nhiều đất để phát
triển sẽ tăng tính bền vững của hệ thống và giảm rủi ro nợ khó đòi
trong hệ thống.
Các
TCTD yếu kém do có trần tăng trưởng tín dụng hẹp nên sẽ phải tập trung
vào nâng cao chất lượng tín dụng và đa dạng hóa dịch vụ để tăng phần
phí dịch vụ, thay vì tăng trưởng tín dụng “nóng”. Ngoài ra, các TCTD
nằm trong nhóm dưới sẽ phải nỗ lực cải thiện chất lượng tín dụng và
phát triển một cách lành mạnh để được chuyển lên nhóm trên, từ đó có
nhiều “room” tăng trưởng tín dụng hơn. Như vậy, nỗ lực này cũng sẽ giúp
lành mạnh hóa thị trường tài chính, giúp các ngân hàng mạnh phát triển
tốt hơn và ngân hàng yếu phải tập trung tái cơ cấu để lành mạnh hóa.
Vậy tiêu chí nào NHNN nên sử dụng để xếp hạng từng ngân hàng?
NHNN có thể xem xét sử dụng các tiêu chí sau để cho điểm các ngân hàng.
Thứ nhất
là vị thế của TCTD, dựa trên mức độ hoạt động ổn định, chiến lược kinh
doanh, hoạt động kinh doanh tập trung vào một vài lĩnh vực hay đa dạng
hóa lĩnh vực. Kinh nghiệm điều hành, mức độ chấp nhận rủi ro và khả
năng ban quản trị thực hiện được kế hoạch kinh doanh cũng là một điểm
quan trọng tạo lập vị thế của TCTD.
Thứ hai
là vốn và lợi nhuận. Đánh giá khả năng của TCTD chịu được lỗ trong kinh
doanh dựa trên việc có đáp ứng được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cùng
với chất lượng vốn và lợi nhuận. Điều kiện tiên quyết là TCTD phải đáp
ứng được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Nếu chưa đáp ứng được, TCTD không
nên được phép tăng trưởng tín dụng cao trong năm, vì điều này sẽ càng
làm giảm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Chất lượng vốn và lợi nhuận cũng
hết sức quan trọng. Nếu vốn cấp 1 chiếm tỷ lệ không cao, vốn của ngân
hàng có khả năng giảm mạnh khi trái phiếu tăng vốn cấp 2 đến hạn và
phải mua lại hoặc trái phiếu chuyển đổi đến hạn mà không được chuyển
đổi thành cổ phiếu.
Thứ ba
là mức độ rủi ro. Đánh giá cách ngân hàng tăng trưởng và thay đổi mức
độ rủi ro trong kinh doanh, rủi ro của việc tập trung và đa dạng hóa
kinh doanh, nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ.
Thứ tư là
nguồn vốn và thanh khoản. Xem xét cách TCTD huy động vốn cho hoạt động
kinh doanh và mức độ nhạy cảm của nguồn vốn (tăng hay giảm) gây ảnh
hưởng lên khả năng duy trì hoạt động và đáp ứng nhu cầu thanh toán khi
thị trường biến động xấu. NHNN có thể xem xét tỷ lệ dư nợ trên tổng
tiền gửi, tỷ lệ vốn trung hạn, sự phụ thuộc vào vốn ngắn hạn từ thị
trường liên ngân hàng và cơ cấu nguồn vốn.
Để
việc xếp hạng được chính xác đòi hỏi sổ sách của các ngân hàng phải
trung thực, nhưng thực tế hiện nay vẫn có hiện tượng “xào nấu” sổ sách.
Liệu việc xếp hạng các TCTD có còn ý nghĩa?
Đây
đúng là một vấn đề khó khăn hiện nay để xác định sức khỏe của các ngân
hàng. Về nguyên tắc, nếu một khoản nợ đến hạn không trả được, thì các
khoản nợ còn lại chưa đến hạn trả nợ cũng có rủi ro. Do đó, mặc dù chưa
đến hạn hoặc đến hạn vẫn trả nợ được, nhưng tình hình tài chính yếu
kém, môi trường kinh doanh có biến động không thuận lợi cho khách hàng,
thì khoản nợ đó nên được coi là có rủi ro.
Tính
chính xác của việc xác định nợ xấu sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc ban
quản trị và cán bộ ngân hàng có thực sự nghiêm túc nhìn nhận các khoản
nợ vay có rủi ro hay không và chính sách quản trị rủi ro có nhằm mục
tiêu tạo nên tính minh bạch trong xác định rủi ro hay không. Chúng ta
chỉ có thể cải tổ hệ thống ngân hàng thành công khi các ngân hàng công
khai “bệnh” của mình để NHNN có thể “bốc thuốc” phù hợp. Ngoài ra, việc
xác định chính xác bệnh của mình sẽ là con đường duy nhất để các ngân
hàng tiến hành tự cải tổ để phát triển lành mạnh và ổn định trong tương
lai. Nếu các ngân hàng vẫn tiếp tục giấu bệnh, các ngân hàng này sẽ gặp
rủi ro hoạt động rất lớn trong tương lai và có khả năng không thể trụ
lại trên thị trường.
Vậy chế tài nào nên được thực hiện để hạn chế tối đa tình trạng “xào nấu” sổ sách, thưa ông?
Các
TCTD bị phát hiện thực hiện “xào nấu” sổ sách nên bị chịu các mức chế
tài cao nhất của NHNN như hạn chế mở chi nhánh, giảm trần tăng trưởng
tín dụng, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực trong một thời gian nhất
định… NHNN có thể xem xét công bố thông tin các ngân hàng “xào nấu” sổ
sách để khách hàng biết và hạn chế giao dịch với các ngân hàng này. Chỉ
khi có sự nghiêm minh trong việc thực hiện, các ngân hàng mới cùng áp
dụng một chuẩn mực tín dụng chung trong toàn bộ hệ thống.
Ông
có cho rằng, cần nhiều tổ chức tư nhân tham gia xếp hạng hay chỉ cần
một tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập với các tiêu chí của một tổ chức
xếp hạng tín nhiệm chuyên nghiệp, có độ tin cậy cao?
Chúng
ta cần một vài tổ chức định hạng tín nhiệm có chất lượng, thay vì có
nhiều tổ chức định hạng tín nhiệm mà ít được tín nhiệm. Hiện nay, do
Việt Nam chưa
có một tổ chức định hạng tín nhiệm độc lập nên NHNN phải thực hiện việc
định hạng tín nhiệm các TCTD để có cơ sở cho việc cấp hạn mức tăng
trưởng tín dụng. Trong tương lai, khi có công ty định hạng tín nhiệm có
uy tín tại Việt Nam, NHNN có thể dựa vào định hạng tín nhiệm của công ty đó để cho phép các ngân hàng tăng trưởng tín dụng theo mức độ phù hợp.
Theo
ông, có nên công khai thông tin về các ngân hàng sau khi đã xếp hạng để
người dân biết? Bởi vì, nếu công bố có thể gây ra bất ổn đối với thị
trường?
Việc
công khai về xếp hạng các ngân hàng là hết sức cần thiết, nhằm tăng
tính minh bạch và củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp vào hệ
thống ngân hàng. Điều này cũng giúp bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người
gửi tiền, do người gửi tiền và doanh nghiệp có quyền được biết sức khỏe
thực sự của các ngân hàng.
Việc
công bố thông tin cũng sẽ tạo áp lực lên các ngân hàng yếu kém để hoạt
động lành mạnh hơn, nhằm được “thăng hạng” lên nhóm tốt hơn. Tôi không
nghĩ việc công bố thông tin sẽ tạo nên bất ổn với thị trường, nhất là
khi các ngân hàng thuộc nhóm yếu kém chiếm thị phần nhỏ.
Theo ĐTCK