Thứ Bảy, 15/12/2007 - 05:58

"Lửa đèn không tắt"

Mấy năm gần đây, nhà thơ Phạm Tiến Duật có làm MC cho chương trình Sống vui sống khoẻ, phát trên sóng VTV2. Là người tha thiết sống, anh có thể sống vui, còn sống khoẻ thì không. Vì anh bị bệnh ung thư, đã mấy năm rồi phải vào bệnh viện điều trị. Những ngày cuối đời, ngọn Lửa đèn Phạm Tiến Duật cháy rất phập phù, lúc hồng lúc lịm, có lúc tưởng như vụt tắt.

Nghe tin anh bệnh nặng, O Nhi ở Hà Tĩnh – cô thanh niên xung phong năm nào xuất hiện trong bài thơ “Gửi em - cô thanh niên xung phong” đã ra bệnh viện 108 thăm nhà thơ Phạm Tiến Duật, vào chiều 18/11/2007. Chuyện thơ, chuyện đời ngỡ quen mà vẫn lạ lùng và xúc động lắm thay. Nghe O Nhi gọi tên mình, anh Duật đang trong cơn hôn mê sâu đã mở bừng mắt. Trong đôi mắt mở to của anh, hai giọt nước trong vắt đã trào ra. Khi O Nhi đặt bàn tay vào tay anh thì anh Duật nắm chặt lấy bàn tay ấy như cố níu lấy một cái gì đó mong manh mà rất bền vững. Liệu có ai níu giữ được nhà thơ Phạm Tiến Duật cho chúng ta không? Người đứng bên giường bệnh của anh là cô thanh niên xung phong mà bạn đọc của Phạm Tiến Duật ai cũng nhớ: “Có lẽ nào anh lại mê em/ Một cô gái chưa nhìn rõ mặt/ Đại đội thanh niên xung phong đi lấp hố bom/ áo em hình như trắng nhất/ Người tinh nghịch là anh dễ thân/ Bởi vì thế có em đứng gần/ Em ở Thạch Kim sao lại lừa anh nói là Thạch Nhọn/ Đêm ranh mãnh ngăn cái nhìn đưa đón...” (Gửi em - cô thanh niên xung phong)

Trong nền thi ca chống Mỹ, nhà thơ Phạm Tiến Duật đứng ở hàng đầu, nếu không muốn nói là số 1. Tổng kết thơ chống Mỹ, Giáo sư Lê Đình Kỵ có viết trên Báo Văn nghệ rằng: “Trong thời kỳ chống Mỹ có hai trường phái thơ - trường phái Chế Lan Viên và trường phái Phạm Tiến Duật. Trường phái thứ nhất, tìm cái đẹp từ bên trong, ngưng đọng trong lý trí. Trường phái thứ hai chủ yếu tìm cái đẹp từ trong các diễn biến sôi động của cuộc sống”. Nhà phê bình văn học Lê Đình Kỵ đã viết rất đúng về cả hai người. “Nếu không có cuộc sống với những con người đa dạng ồn ào bao quanh với xô bồ chi tiết trôi chảy từng phút, từng giờ, thì hình như tôi không có thơ. Tài liệu của văn chương, căn cớ của văn chương có thể là cái ác, nhưng mục đích của văn chương phải là cái Thiện. Cái ác lấy sự sắp đặt lý trí làm trọng còn cái Thiện lấy sự uẩn súc của tình đời làm trọng. Có nền văn học nào trên thế giới lại thiếu cái tình uẩn súc ấy? Cứ ngẫm một hồi về thơ Đường và thơ Tống, cũng rõ.

“Nhưng muốn làm cái ác đã khó mà muốn làm cái Thiện còn khó hơn nhiều. Muốn có cái thiện của thời này phải học kỹ lưỡng lắm. Chẳng hạn, muốn trung thực mà không hiểu biết cũng không thể trung thực được. Vậy trước mặt nhà văn luôn luôn là một biến đổi”. Phạm Tiến Duật từng tâm sự.

Trước hết Phạm Tiến Duật là nhà thơ của Trường Sơn. Anh có mặt trên đường Trường Sơn suốt tám năm ròng. Bàn chân anh đã đi khắp mọi ngóc ngách của con đường chiến lược này. Thơ anh ngồn ngộn cuộc sống chiến trường. Dân tộc ta đã trải qua nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại, nhưng phải đến Phạm Tiến Duật thì tiếng bom, tiếng súng và khói lửa kháng chiến mới tràn vào thơ ca một cách tự nhiên đến thế và rung động đến thế: “Bom bi nổ chậm nổ trên đỉnh đồi; Lốm đốm chân trời những quầng lửa đỏ; Một lúc sau cũng từ phía đó; Trăng lên”.

Thơ anh Duật nhiều khám phá, những khám phá mới mẻ khiến người đọc ngỡ ngàng và thú vị: “Anh cùng em sang bên kia cầu/ Nơi có những miền quê yên ả/ Nơi có những ngọn đèn thắp trong kẽ lá/ Trái cây chín đỏ hoe/ Quả nhót như bóng đèn tín hiệu/ Trỏ lối sang mùa hè/Quả cà chua như cái đèn lồng nhỏ xíu/Thắp mùa đông ấm những đêm thâu/Quả ớt đỏ như ngọn lửa đèn dầu/Chạm đầu lưỡi chạm vào sức nóng/Mạch đất ta dồi dào sức sống/Nên nhành cây cũng thắp sáng quê hương...” (Lửa Đèn).

Suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, thơ Phạm Tiến Duật luôn thường trực trên Báo Văn nghệ. Trong ba lô của những người lính ra trận có thơ của anh. Đó là những bài thơ khoẻ khoắn, trẻ trung và đậm đà chất hào sảng của dân tộc ta những năm chiến tranh vệ quốc: “Không có kính ừ thì có bụi/Bụi hun tóc trắng như người già/Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc/Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha...” (Bài thơ Tiểu đội xe không kính)

Trên đường Trường Sơn, tôi từng nghe các cô thanh niên xung phong vừa san lấp hố bom vừa đọc thơ Phạm Tiến Duật, mỗi người một câu, người nọ nối người kia, dài như đội hình xung kích: “Cạnh giếng nước có bom từ trường/Em không rửa ngủ ngày chân lấm/Ngày em phá nhiều bom nổ chậm/Đêm nằm mơ nói mớ vang nhà/Chuyện kể từ nỗi nhớ sâu xa/Thương em, thương em, thương em biết mấy/Dừng tay cuốc khi em ngoảnh lại/Sẽ giật mình đường lớn ta xây/Đã có độ dài hơn cả độ dài/Của đường sá nghìn xưa để lại...” (Gửi em cô thanh niên xung phong).

Từ chiến trường ra, Phạm Tiến Duật trực ban thơ ở Báo Văn nghệ, rồi làm Phó Ban đối ngoại Hội Nhà Văn VN, Tổng Biên tập Tạp chí Diễn đàn văn nghệ VN. Đây là thời kỳ nhà thơ viết nhiều tiểu luận nhất. Năm 2004, anh nhận giải thưởng Hội Nhà Văn VN tặng cho tập sách tiểu luận Vừa làm vừa nghĩ của anh. Đây là những bài viết về nghề thơ, về thiên chức của người nghệ sĩ, cũng là những chiêm nghiệm của anh về nghề, về người.

Rồi thời gian sẽ đi qua. Rồi thời gian sẽ xoá đi nhiều gương mặt. Nhưng nhà thơ Phạm Tiến Duật là một gương mặt còn lại.

Anh Duật bị ung thư phổi mấy năm nay. Hầu như năm nào anh cũng phải nằm viện. Nhưng cái hạn năm Đinh Hợi này đối với anh là cam go nhất, vì tế bào ung thư đã di căn lên não. Một đời vừa cầm súng, vừa làm thơ nhà thơ Phạm Tiến Duật mong ước gì? Anh từng nói với các bạn văn lớp sau ở trường viết văn Nguyễn Du: “Tôi mơ ước được làm một cái cây, sống thì trải màu xanh cho đất, chết thì làm củi nấu chín nồi cơm và sưởi ấm những đêm đông”.

Trời ơi!
Có ai rót thêm dầu
Cho lửa đèn đừng tắt?

search