Làm sao đủ nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển là chủ đề thường xuyên được đặt trên bàn tròn các hội nghị. GS - TS Nguyễn Thiện Nhân - Bộ trưởng Bộ GD - ĐT VN đã đưa ra 4 giải pháp để đào tạo nhân lực có kỹ năng.
Hiện tại, hệ thống cơ sở đào tạo nhân lực gồm 599 TT dạåy nghề, gần 600 trường dạy nghề và trung cấp chuyên nghiệp, 320 trường cao đẳng và đại học với quy mô tuyển sinh hàng năm của các TT dạy nghề, trường dạy nghề và trung cấp chuyên nghiệp lên đến trên 1,5 triệu, các trường cao đẳng và đại học là trên 330.000 và sau đại học là trên 15.000. Hệ thống này đã cung ứng lao động cho hầu hết các lĩnh vực phục vụ phát triển kinh tế, xã hội. Trong đó, các cơ sở đào tạo nghề cung cấp khoảng trên 300 ngành nghề đào tạo, trong khi cơ sở GDĐH cung ứng trên 200 ngành đào tạo và hàng trăm chương trình đào tạo khác nhau. Quy mô đào tạo trong các hệ thống này tăng trên 10%/năm. Tuy nhiên, tỷ lệ người lao động được đào tạo nghề từ trình độ sơ cấp đến ĐH ở độ tuổi thành niên mới chiếm dưới 30% tỷ lệ này được nâng lên 40% vào năm 2010.
Ngành giáo dục cũng xác định cần phải đối diện với những thách thức to lớn và cấp bách như chất lượng GDĐT còn thấp, tính toàn diện về nghề nghiệp và sự chủ động trong học tập còn hạn chế, đào tạo nghề các trình độ còn chưa sát, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp mới chỉ đạt dưới 30%, còn trên 70% thanh niên bước vào thị trường lao động mà không được đào tạo trước một cách phù hợp. Do đó, vừa phải nâng cao chất lượng GDĐT vừa phải tăng nhanh quy mô đào tạo nghề cho xã hội, trong điều kiện kinh phí dành cho GDĐT bình quân mỗi người dân khoảng 3 USD/tháng là thách thức lớn nhất của giáo dục hiện nay.
Ngành giáo dục đã đưa ra 4 giải pháp - sáng kiến của VN để phát triển nhanh đào tạo nhân lực có kỹ năng.
Thứ nhất là xác lập các yêu cầu mới về chuẩn tri thức, kỹ năng và hành vi của giáo dục phổ thông và đào tạo nghề. Trong đó, công bố chương trình chuẩn giáo dục phổ thông cho giáo dục hiện nay; nhấn mạnh các yêu cầu hành vi như chủ động, hoạt động tập thể, vận dụng sáng tạo, biết tự học, biết khai thác thông tin qua mạng, trung thực; nhấn mạnh các giá trị văn hóa dân tộc làm nền tảng cho phát triển bền vững quốc gia và cá nhân; chú trọng đào tạo và ứng dụng ngoại ngữ, tin học trong học tập, làm việc.
Thứ hai là phát triển nhanh đội ngũ giáo viên và các nhà quản lý giáo dục theo yêu cầu của thời kỳ sau 2010. Cụ thể như: Triển khai chương trình đào tạo đổi mới phương pháp giảng dạy cho gần 1 triệu giáo viên phổ thông từ 2007 - 2010; Triển khai chương trình đào tạo 20.000 tiến sĩ làm giảng viên cho ĐH, CĐ từ 2007 - 2020, trong đó 10.000 tiến sĩ được đào tạo ở nước ngoài; Bồi dưỡng tất cả các hiệu trưởng các trường phổ thông và ĐH - CĐ theo chương trình chuẩn về quản lý giáo dục từ 2007 - 2010; Tăng lương cho tất cả các nhà giáo, cải thiện điều kiện làm việc của nhà giáo.
Thứ ba là triển khai mạnh mẽ đào tạo theo nhu cầu xã hội. Tập trung triển khai 10 năm (2008 - 2018) nâng cao chất lượng đào tạo và khả năng sử dụng tiếng Anh của người Việt; thành lập trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực; triển khai đào tạo theo đặt hàng của các ngành, Cty lớn quan sự liên kết giữa 3 bên như cơ sở đào tạo - DN - cơ quan Nhà nước; tại các tỉnh thành có KCN lớn, Bộ GDĐT, Bộ LĐTBXH và BQL các KCN phối hợp hình thành các trung tâm cung ứng nhân lực, phục vụ nhanh, hiệu quả nhu cầu của các nhà đầu tư; xây dựng chợ kỹ thuật trên mạng; liên kế tới các ĐH nước ngoài để phát triển các ngành đào tạo có trình độ quốc tế; khuyến khích ĐH tư thục, trường dạy nghề tư thục phát triển, thu hút các ĐH, trường nghề nước ngoài mở cơ sở tại VN; thực hiện kiểm định chất lượng ĐH (từ 2006) và công bố xếp hạng các ĐH từ 2007.
Thứ tư là đổi mới cơ chế tài chính như nâng cao học phí các trường ĐH; phát triển các chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên nghèo, khuyến khích sinh viên học giỏi; khuyến khích các trường phổ thông tư, các trường dạy nghề tư và các trường ĐH, CĐ tư ra đời và hoạt động hiệu quả; khuyến khích đầu tư nước ngoài vào GDĐT.