Với đặc trưng “Tam sơn tứ hải nhất phần điền”, chiều dài bờ biển khoảng 3.600 km, VN có điều kiện tương đối thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển trong đó phải kể đến: khai thác dầu khí, hàng hải, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản, du lịch...Tuy nhiên, bên cạnh lợi ích kinh tế đã đạt được trong những năm qua vấn đề bảo vệ và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên biển vẫn chưa được chú trọng
Thực trạng tài nguyên biển
Theo số liệu thống kê mới đây ở vùng biển nước ta đã phát hiện 11.000 loài động thực vật, trong đó có 2.038 loài cá, 70 loài tôm. Trữ lượng hải sản có giá trị ở vùng biển VN được đánh giá sơ bộ khoảng 3.600.000 tấn, bao gồm 1.900.000 tấn ở ven bờ. Từ lâu đây đã là nguồn lợi cho thu nhập chính của các cư dân ven biển. Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật nhiều phương tiện đánh bắt mới đã được đưa vào khai thác, chỉ trong hơn một thập kỉ lượng hải sản đánh bắt đã tăng hơn gấp đôi từ 0,7 triệu tấn lên gần 2 triệu tấn vào năm 2002. Tuy nhiên do không có phương pháp nên hiệu suất đánh bắt giảm . Hiện tượng dùng thuốc độc, chất nổ để đánh bắt cá vẫn xảy ra thường xuyên.Theo đánh giá của Cục Bảo vệ môi trường, trong vòng 15 năm qua, trong khi sản lượng đánh bắt tăng thì lượng đánh bắt trên một đơn vị đánh bắt lại liên tục giảm, ngoài ra kích thước của các loại cá đánh bắt được cũng có chiều hướng giảm. Đến nay trong Sách Đỏ VN đã có 83 loại sinh vật biển có nguy cơ tuyệt diệt. Rừng ngập mặn được xem là bộ lọc các chất ô nhiễmnguồn lục địa, là lá chắn tự nhiên bảo vệ bờ biển, nơi sinh cưcủa không chỉ nhiều loàisinh vật nước lợ có giá trị kinh tế cao mà còn có cả những loài ngoài khơi di trú theo mùa vụ. Nhưng nó đang phải đứng trước nguy cơ bị tàn phá . Sau 5 thập kỉ qua, diện tích rừng ngập mặn của VN đã giảm hơn 80%. Phong trào nuôi tôm là một trong những nguyên nhân chínhphá huỷ rừng ngập mặn, bên cạnh đó phải kể đến nạn cháy rừng, điển hình là vụ cháy rừng U Minh Thượng đã phá huỷ hàng ngàn ha. Bên cạnh đó nướcta còn khoảng 290.000 ha bãi triều lầy, cung cấp tiềm năng lớn cho nuôi trồng thuỷ sản nước lợ chưa được sử dụng hợp lí.
Một trong những thế mạnh của kinh tế biển không thể không kể đến ngành hàng hải. Vào thời điểm hiện tại nước ta có khoảng 40 cảng biển và ở các vùng cửa sông và ven bờ, một số cảng cũ như Cái Lân, Vũng áng, Dung Quất đang đượccải tạo và sẽ đưa vào sử dụng trong thời gian tới. Lượng hàng hoáchuyển tải qua các cảng trong những năm gần đây đă đạt tới trên dưới 20 triệu tấn. Đến nay đã có trên 800 tàu chở hàng và khoảng gần 60.000 thuyền đánh cá hoạt động trên vùng biển. Những lợi ích về kinh tế không thể phủ nhận, nhưng hàng năm một lượng lớn dầu đã được thải ra biển cùng với rác thải sinh hoạt. Sự cố tràn dầu vẫn thường xuyên xảy ra. Chỉ tính riêng từ năm 1994 đến nay đã có khoảng 20 vụ tràn dầu với lượng dầu tràn từ 100 tấn đến 1.865 tấn, làm thiệt hại hàng trăm tỷ đồng và gây hậu quả nghiêm trọng về môi trường.
Hai thập niên trở lại việc thăm dòkhai thác dầu khí được tiến hành ở VN và nó nhanh chóng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp nhiều nhất vào ngân sách nhà nước. Đây thực sự là thứ tài nguyên có gía trị nhất mà biển ban tặng. Sản lượng khai thác dầu thô không ngừng tăng từ 0,04 triệu tấn/ năm vào năm 1986 đến 2 triệu tấn vào năm 2002. Tuy nhiên những ảnh hưởng của hoạt động khai thác vận chuyển dầu khí đã làm gia tăng nồng độdầu trong nước biển, kết quả quan trắc liên tục cho thấy hàm lượng dầu tăng dần, tập trung ở các cảng lớn, các luồng tàu và quanh dàn khoan dầu khí. Hàm lượng dầu luôn vượt tiêu chuẩn cho phéptừ 1,2 đến 8 lần (ven bờ miền Bắc 2,56 mg/l, miền Trung 0,45 mg/l, miền Nam 0,35 mg/l, khu vực giàn khoan dầu khí 0,60mg/l).
Nguồn lợi từ biển mang lại cho ngành du lịch cũng không phải nhỏ. Trong những năm gần đây đã có hàng trăm bãi biển lớn nhỏ được đưa vào khai thác để phục vụ du khách trong nước và quốc tế. Nhưng do cơ sở hạ tầng của chúng ta còn yếu kém cũng như ý thức của người dân chưa cao mỗi năm có đến hàng nghìn tấn rác đủ các loại được thải ra từ các hoạt động du lịch.
Đâu là giải pháp
Trước thực trạng nguồn tài nguyên biển đang bị đe doạ trong những năm gần đây các bộ ngành hữu trách đã có nhiều chính sách nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên vô giá này. Tại dự thảo Chiến lược bảo vệ môi trườngVN 2001- 2010 đã xác định: Chiến lược quản lí môi trường biển và ven biển với mục tiêu làtiến hành thành công xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tếbền vững tại vùng duyên hải thông qua các hoạt động quản lí và bảo vệ môi trường trong vùng. Mới đây trong một buổi toạ đàm về bảo vệ môi trường biển do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức, PGS, TS Nguyễn Chu Hồi - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế quy hoạch thuỷ sản cho rằng: “Đến nay nhiều quyết định, hoạt động khai thác của các cấp các ngành và cộng đồng ven biển vẫn còn thiếu hiệu quả do chưa hiểu biết đúng đắn bản chất tự nhiên của vùng bờ nói chung và của hệ thốngtài nguyên bờ và biển nói riêng. Việc quản lí vẫn ưu tiên cách tiếp cận đơn ngành với những tồn tại chủ yếu như : chỉ chú ý đến lợi ích của mình, ít chú trọng đến lợi ích người khác, ngành khác, sử dụng tài nguyên tự phát, thiếu quy hoạch; chú trọng lợi ích trước mắt ít chú trọng lợi ích lâu dài; ưu tiên hàng đầu lợi ích kinh tế, ít chú ý, thậm chí quay lưng với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.”
Cũng theo ông, nếu chúng ta không có những hành động thiết thực thì biển sẽ biến thành một chiếc thùng rác vô đáy mà không chỉ do các hoạt động chung quanh biển thải xuống mà còn từ miền núi đồng bằng. Chính vì vậy giải pháp mà PGS - TS Nguyễn Chu Hồi đề ra đối với công tácquản lí môi trường biển là phải đặt hệ thống tài nguyên biển trong tổng thể, trong mối quan hệ tương tác khi cân nhắc phương thức sử dụng dựa trên các nguyên tắc cơ bản như: Lồng ghép kế hoạch quản lí vùng bờ biển với quản lí lưu vực sông lân cận; Lồng ghép các hệ thống tài nguyên với hệ thống nhân văn để xây dựng các mô hình kinh tế - sinh thái bền vững; Lồng ghép các hoạt động pháttriển của các ngành trong một kế hoạch vùng thống nhất, đảm bảo tính liên ngành trong lập kế hoạch phát triển; Lồng ghép các cân nhắc môi trường vào tất cả các bước của quá trình quy hoạch và lập kế hoạchphát triển kinh tế biển và vùng ven bờ.
Ông cũng đánh giá cao chương trình Vì biển xanh quê hương do Trung ương đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức với sự tài trợ của Nestea. Chương trình triển khai thí điểm ở TP Hạ Long (Quảng Ninh) đã thu hút hơn 1.000 đoàn viên thanh niên tham gia nhặt rác làm sạch bãi biển và trồng cây chắn sóng. Được biết chương trình sẽ tiếp tục ở Đà Nằng và Vũng Tàu. Theo ông Nguyễn Chu Hồi: “Bảo vệ tài nguyên biển phải được đặt trong hoạt động của từng ngành và trong mối quan hệ liên ngành. Đây là công việc của toàn dân, trong đó thanh niên là lực lượng xung kích”.
Phan Nam