Thứ Ba, 29/07/2003 - 09:34

Xuôi ngược trên sông

Tàu thuyền trên bến Việt AnMột thời, đêm đêm người dân Việt An (Việt Xuân, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) mất ăn mất ngủ nhìn sang phía bên kia bờ sông lấp lánh ánh điện- nơi thành phố Việt Trì đang thay đổi từng ngày từng giờ mà cám cảnh cho mình. Nhưng như người xưa vẫn thường nói “có sức người sỏi đá cũng thành cơm”- người Việt An với tính cần cù chăm chỉ đã biết cụ thể hoá lợi thế trời ban để vươn lên làm giàu từ nghề vận tải đường sông. Hiện tại trong hơn 100 hộ dân của làng số người có bạc triệu trong tay đã nhiều và bạc tỷ cũng có.

Làng 3 không

Nằm nép mình sát khúc cua của dòng sông Lô ngay dưới chân cầu Việt Trì, Việt An là một làng ít tuổi. Nếu tính chi li thì cái làng này có lẽ mới bước sang thế hệ thứ 4. Đây là nơi hội tụ của dân thập phương kéo về khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc.Một cái làng 3 không:không đình, không chùa và không cả đất canh tác. Cần câu cơm duy nhất của họ là dòng sông Lô, dòng Phó Đáy. Một thời ở đoạn sông này cá nhiều vô kể mà người ta không thể không nhắc đến cá Lăng, cá Anh Vũ. Không giàu nhưng người Việt An cũng chẳng đến nỗi quá vất với chuyện miếng cơm manh áo. Thế nhưng cái nghề chài lưới chẳng thể giúp họ đổi đời, họ vẫn chỉ là những cư dân vạn chài. Đến những năm 80 của thế kỉ trước Hợp tác xã vận tải Việt An thành lập, ngư dân được vận động tham gia. Việc chuyên chở hàng lương thực thực phẩm như muối gạo,... từ miền xuôi lên miền ngược và củi, than từ miền ngược về miền xuôi đã khiến cho nhiều hộ gia đình khấm khá có của ăn của để. Năm 1985 Hợp tác xã Vận tải Việt An được tặng Huân chương Lao động hạng Ba. Nhưng thời kì hoàng kim của HTX qua nhanh khi đất nước bước vào thời kì đổi mới. Cơ chế làm ăn thay đổi, khả năng thích ứng của HTX lại chậm dẫn tới xã viên thiếu việc làm, nợ chồng chất và đến 1992 thì giải thể. Mất việc, không đất canh tác khiến cho các xã viên hụt hẵng thậm chí bi quan. Một số người lục tục đi sắm ngư cụ tìm về với nghề truyền thống để mong qua cơn bĩ cực. Người cụt vốn thì đi gánh cát, làm thuê kiếm sống qua ngày.

Khát vọng làm giàu

Như người xưa vẫn thường nói “cái khó ló cái khôn”, trong lúc lao đao khốn đốn cái ý nghĩ trở lại với nghề vận tải gắn bó với họ bao năm đã loé lên nhưng nhất định phải đổi mới cách làm. Anh Trần Phúc Học- người đi đầu trong lĩnh vực vận tải tư nhân của làng tâm sự: “Hạ lưu sông Lô và sông Phó Đáy có một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đó là cát, sỏi, nhất là trên mạn Bãi Bằng, trong khi đó nhu cầu xây dựng ngày một tăng. Nghĩ thì dễ, nhưng khó nhất vẫn là vốn, làm cái nghề vận tải vốn đầu tư cho phương tiện không nhỏ trong khi đó hầu như hộ nào cũng tay trắng.”Chẳng thể câu cá mà không có cần, đích thân ông Nguyễn Văn Chân- Bí thư đảng uỷ xãcắp cặp lên trình bày “dự án” với huyện với ngân hàng huyện, và đứng ra bảo lãnh cho bà con vay vốn. Nhưng đồng vốn cho vay cũng chẳng đáng là bao vì Ngân hàng không dám vung tay quá trán khi mà khách hàng của họ là những người không vật thế chấp. Cơ chế của Ngân hàng là cho vay 50% giá trị con thuyền. Khát vọng làm giàu mà trước hết là sự thúc bách của cuộc mưu sinh, mấy chục hộ đã chạy đôn chạy đáo đi vay từ nhiều nguồn để có được những chiếc thuyền nan gắn máy cỡ làng nhàng. Mấy anh em nhà ông Học là người mạnh dạn nhất trong việc triển khai hoạt động vận tải đường sông ở Việt An. Ban đầu, mọi người thu mua lại cát, sỏi đem bán cho ngay trên bờ. Nếu phải cất hàng từ những chỗ xa hơn, mạn Bãi Bằng, thì trung bình cứ hai ngày thuyền chạy một chuyến đổ về xuôi. Tiền lãi thu được chủ yếu là qua ăn chênh lệch sau khi đã trừ đi chi phí. Năng nhặt chặt bị, sự cần cù cùng với hướng đi đúng đắn đã giúp người dân Việt An thoát nghèo, trả được nợ ban đầu, đời sống dần dần ổn định. Nhưng không dừng ở đo,á có tiền, những người trước đây cùng hùn vốn liền “tách” ra làm ăn riêng. Lần này cái đích mà họ hướng tới là “làm giàu”. Sau mấy lần “tách”, đến nay vợ chồng ông Học đã có con tàu công suất 180 mã lực với tải trọng 500 tấn, trị giá ngót tỷ đồng mà chính ông làm thuyền trưởng, vợ ông làm máy trưởng. Thấy làm ăn được, nhiều hộ mạnh dạn đầu tư, mở rộng quy mô “đội tàu”. Cùng với anh em nhà ông Học, bây giờ cũng có nhiều nhà đang làm ăn lớn nhưnhà Tuấn, Lí, nhà bà Cả Thinh... Hiện tại, cả làng có khoảng 110 hộ dân thì có tới 117 chiếc tàu, thuyền trung bình mỗi hộ một chiếc, có hộ sở hữu tới bốn năm chiếc, trong đó tới hơn 50 chiếc có trọng tải từ 300 tấn trở lên. Nhâm Phú là doanh nghiệp tư nhân đầu tiên chuyên kinh doanh cát sỏi được thành lập của Việt An. Nhâm- ông chủ doanh nghiệp kinh doanh cát, sỏi mới 28 tuổi. “Đồng vốn” ban đầu của Nhâm chỉ là... sức lao động trước khi là chủ một đội năm chiếc tàu vận tải có tải trọng trên 300 tấn, hai chiếc ô tô IFA. Trung bình, cứ hai ngày đội tàu của Nhâm, mỗi tàu từ hai đến ba lao động, lại chạy đi “cất” cát, sỏi từ mạn ngược về xuôi, “thu” than, củi từ Hải Phòng, Quảng Ninh ngược lên Tuyên Quang, Yên Bái bán. Một khối cát Nhâm lấy tại bãi khoảng 6 nghìn đồng, đem đi bán với cái giá 9 nghìn đồng hoặc 8 nghìn đồng tuỳ loại cát. Nếu khách mua tại bến bán giá khác với khách mua theo “điện đặt hàng”. Đội xe của Nhâm làm không nghỉ, nhiều khi chạy thuê cho cả tàu khác. Khi đã có đồng vốn trong tay thì đi vay ngân hàng cũng dễ, Ngân hàng đảm bảo cho 50% trị giá phương tiện cần mua, còn lại người đi vay tự chủ động lấy. Vật thế chấp là chính tài sản mua từ đồng vốn vay. Nhà Nhâm có mười anh em thì cả mười anh em đều khấm khá lên từ kiểu tích tiểu thành đại này. Ban đầu, những chủ tàu thuyền như Nhâm, Học còn phải trực tiếp lái tàu, thuyền đi thu mua vật liệu từ khắp nơi. Cả gia đình lênh đênh trên tàu, bao nhiêu cái sự ăn uống, sinh hoạt đều diễn ra cả ở trên sông. Bây giờ, hầu hết đều ngồi chơi, xơi nước ở nhà mà thuê người làm. Việt An đã “giải quyết” việc làm cho khoảng hơn 100 lao động từ vùng lân cận với mức thu nhập từ 800 nghìn- 1 triệu đồng/ tháng. Bao nhiêu nhân công từ máy trưởng, giúp việc đều sinh sống cả trên tàu. Cuộc sống cũng không khác mấy trên bờ, cũng tivi, cũng đài, cũng tủ lạnh... Nhiều hộ dân trước đây gắn bó với nghề chài lưới cũng bỏ hẳn để theo nghề vận tải. Nhà ông Đào - một trong những cư dân sống lâu năm ở làng có 4 người con trai thì đều đi làm thuê cho các chủ tàu và nghe đâu họ đang hùn vốn để sắm riêng cho mình một chiếc thuyền. Hiện tại, trong số hơn một trăm hộ dân của thôn này thì không ít nhà đã có trong tay tiền triệu, tiền tỷ. Ngay trên “bến” Việt An, nhiều nếp nhà mới khang trang, to đẹp đã được dựng lên. Có bảo làng này là làng triệu phú cũng không ngoa, bởi lẽ phần lớn đều đã giàu có, sung túc.

Lời kết

Đã có miếng ăn miếng để nhưng khi đứng từ cầu Việt Trì nhìn xuống hẳn sẽ thấy còn nhiều vấn đề phải bàn. Chẳng biết có phải quá mải mê làm giàu hay không mà người dân ở đây đã quên đi việc đầu tư cho cơ sở hạ tầng- con đường dẫn vào làng bị băm nát bởi từng đoàn xe vào “ăn” hàng. Ngày nắng thì bụi, ngày mưa thì lầy lội, đó là cảnh thường thấy. Bến Việt An- nơi hợp lưu của hai con sông dần dần bị thắt lại. Cả làng chìm trong tiếng tàu thuyền ồn ã, tiếng máy hút, máy xúc cát, sỏi trên sông làm việc đêm ngày... mà làng lại còn nằm ngay gần chân cầu Việt Trì. Nhưng điều đáng lo hơn cả là trong số những thuyền trưởng, máy trưởng ngày ngày điều khiển những chiếc tàu, thuyền mã lực lớn, trọng tải cao kia vận hành xuôi ngược trên sông, bao nhiêu phần trăm có tay nghề chắc chắn. Ai dám đảm bảo? Xem ra đây không chỉ là chuyện riêng ởViệt An mà đó là việc của các cơ quan chức năng. Còncái cách làm giàu, cái sự cần cù không cam chịu nghèo khổ của người Việt An vẫn đáng ghi nhận lắm lắm!

Phan Nam

Các tin đã đưa

search