Một người bạn là giáo viên của Trường PTTH Gia Lộc (Hải Dương) gọi điện lên nhờ cậy tôi: “Cậu thân với Trần Đăng Khoa, cố mời ông ấy về nói chuyện trong buổi ngoại khoá thơ của trường mình. Nghe người ta đồn là ông ấy kiêu lắm”. Tôi nhận lời mà trong lòng không khỏi lo lo bởi cuối năm lại gấp gáp thế này, cái ông nhà thơ kiêm nhà báo kia chắc đang mải “cày” cho các báo để còn thu hoạch hàng đống tiền nhân vụ Tết.
Nghe tôi nói, TĐK ừ ừ trong điện thoại: “Thím đã nói thế thì ta nhận lời. Nhưng mà thím nhớ nhắc kẻo ta già rồi hay quên”. Chẳng có lời dặn của lão thì tôi biết cũng phải nhắc dăm bảy bận nếu không muốn bị “cháy vở”. Tết năm ngoái, biết tính lão, tôi đã đặt bài Tết thật sớm. Vài ba lần gọi điện rồi cũng được một lời hứa chắc như đinh đóng cột: “Đọc địa chỉ “meo” của thím đi - sáng mai sẽ có bài ta gửi đến”. Sáng mai, sáng ngày kia, sáng ngày mốt... chẳng thấy “bóng chim, tăm cá” ở đâu. Gọi vào di động chỉ thấy cái giọng đáng ghét của cô trực tổng đài Vinaphone: “Thuê bao quý khách vừa gọi có thể ngoài vùng phục vụ hoặc tắt máy”. Đúng một tuần sau mới liên lạc được: “Thím thông cảm ta phải đi nói chuyện một vài nơi... Rồi, bài báo của thím ta sắp viết xong đây...” Cuối cùng thì “Chuyện chép ở Long Đất” của lão cũng đến, in trang trọng đẫy một trang. “Cho người mang nhuận bút đến à - thôi vẽ - thím cầm lấy mua quà cho các cháu bảo bác Khoa mừng tuổi”, lão nói tưng tửng. Tôi chọc: “Bình thường thì em nhận ngay nhưng dịp này em muốn thêm vào cái kỷ lục làm tiền dịp Tết của lão thôi. Khai thật đi - lão thu hoạch vụ này bao nhiêu? Nghe giới giang hồ đồn đại là “đậm” lắm hả?” Lão thở dài đánh thượt: “Kém vụ trước thím ạ - được vài chục thôi”. - “Vài chục triệu mà lão nói gọn lỏn như vài chục nghìn ấy hả? Lão thử quy ra vàng rồi “lát” lên các con chữ của lão xem sao!”
Thấy tôi la như cháy đồi, lão than thở:
- Thì thím tính ta cày như điên ấy chứ. Từ 4 - 5h sáng là dậy ôm vi tính đến tận trưa. Chiều đọc sách hoặc đi nói chuyện...
Hình như đi nói chuyện bây giờ cũng là nghề của lão.
Quay lại việc đi nói chuyện hôm ấy. Là người hay bị say xe, vậy mà hôm ấy tôi mấy lần rũ ra cười bởi những câu chuyện lão kể, quên được cái nôn nao chết tiệt mọi khi. Quen lão khá lâu rồi - vẫn biết lão hóm, vậy mà nhiều khi vẫn thấy bất ngờ. Mà cái lão này lạ thật, lên Hà Nội dễ đến gần chục năm, lại đi Tây đi Mỹ, tổng cộng cũng vài năm chứ ít ỏi gì đâu, vậy mà giọng vẫn đặc nhà quê. Chẳng cứ gì giọng nói, trông lão y như vừa vớt được ở chân ruộng trũng Nam Sách lên. Tôi có lúc đã nói vụng sau lưng lão thế. Mà có nói trước mặt, chắc lão cũng chỉ cười hề hề “thì đích thực ta là anh nhà quê mà”. Rồi cô nào lão cũng ta với thím. Chẳng biết ở nơi khác thế nào chứ ở Hải Dương nhà tôi thì thím tức là vợ người em. Hình như lão muốn xác định rõ ràng danh phận. Ngày xưa khi lão chưa có cô vợ xinh xẻo bây giờ, tôi và nhà văn Y Ban thường sốt sắng tìm vợ cho lão. Lão ra điều kiện: “Thứ nhất nhà văn, thứ nhì nhà báo là các thím cứ chừa ra, ta hãi hai cái món đó lắm. ấy, nhưng riêng hai thím thì ta quý - đừng nghĩ ta ám chỉ gì. Hay là các thím kiếm cho ta cô hàng rau hay hàng nước gì đó thì thật hợp... “Rồi chúng tôi cũng mối manh cho lão một cô nhà báo nhỏ nhắn, điệu đà. Hình như lão cũng đi uống cà phê với cô ta một hai lần. Sau đó Y Ban hỏi lại thì lão bảo: “Này - hay là ta các cái xe máy của ta với cô ấy cho chồng thím để dắt mẹ con thím về ở với ta”. Chúng tôi cười chảy cả nước mắt. Rồi lão cũng lấy được vợ. Việc nàythì nhà văn Lê Lựu đã kể chán rồi. Chỉ có hôm vợ lão sinh con gái, rồi lão bị “hạn”, tôi và Y Ban hẹn gặp nhau rẽ qua thăm. Lão kéo tót ra quán cà phê trước cửa Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Ba tên đấu hót thế nào mà quá giờ trưa: “Thôi cháu nó về nhà ngoại rồi, ta đi ăn cái gì đi...” Kéo nhau ra quán bún chả rồi lại quay về uống cà phê vẫn không hết chuyện. Mà lão cũng tài, cứ rủ rỉ rù rì như thế nhưng chẳng khác gì ma xó, cái gì cũng biết. Chuyện đời, chuyện nghề... Thôi thì đủ cả . Lão giở cả một đống thư bạn đọc gửi đến lão cho bọn tôi xem. Rồi trước khi ra về lão còn dặn với: “Cái cuốn của D. A lạ đấy - các thím đọc đi nhé...”.
Hôm đi nói chuyện ấy, vừa buồn cười vừa cảm động là cái biểu ngữ chăng ngang văn phòng: “Nhiệt liệt chào mừng nhà thơ Trần Đăng Khoa về thăm trường ta”. Khối người đông đảo vỗ tay rào rào khi thấy TĐK bước vào. Thế mới biết thơ của TĐK có sức sống thế nào và lòng yêu mến dành cho TĐK lớn đến đâu. Thật là đáng ghen tị với lão! Tôi chẳng thể nhớ rõ là lão kể những điều gì. Kỷ niệm ngày thơ bé, những bài thơ chập chững đầu tiên, cái ngô nghê của tình yêu đầu tiên và những điều học được từ trang sách... Câu chuyện lúc thì nghiêm trang, lúc thì dí dỏm rồi đôi chỗ lão lại bôi bác chính mình. Mọi người, từ các thầy cô giáo đến những em học sinh của trường PTTHI Gia Lộc và những trường lân cận cười ngả nghiêng, khoái trá. Tôi cũng chẳng dám chắc là mọi người cười vì câu chuyện lão kể hay vì cách lão thể hiện hay chính vì bản thân nhà thơ TĐK bằng xương bằng thịt. Chẳng biết nữa, chỉ biết là có được những trận cười tập thể như thế thật thú vị và cũng thật buồn cười. Kết thúc bài nói chuyện lão đột ngột hỏi: “Những chuyện tôi kể - các bạn có tin không?” thì tất cả đều đồng thanh kêu tướng “chuyện bịa” và lại phá ra cười rầm rầm.
Hình như TĐK biết cách kể chuyện. Chuyện thật như bịa và chuyện bịa như thật - điều ấy không phải ai cũng làm được. Hình như viết về một vấn đề gì đó, về một ai đó lão đều biết cách “tóm” được cái gì đó rất “cốt tử”, rất đặc trưng mà sau khi đọc xong ta thường a lên một tiếng thích thú. Mỗi lần gặp nhà văn Nguyễn Khắc Trường, nghe giọng cười khơ khớ rất đặc biệt của anh, tôi lại nhớ TĐK viết trong “Chân dung và đối thoại” đại thể: Nguyễn Khắc Trường đánh lên một tiếng trống rất to giữa làng văn (cuốn tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma) rồi sau đó quẳng cái dùi trống đi, chui luôn vào chiếc trống và chỉ nghe những âm vang của nó...
Những chi tiết thế này đã làm nên một TĐK rất riêng của Chân dung và đối thoại và của nhiều bài mà lão viết. Nhưng cũng chính vì thế mà lão được người yêu cũng lắm mà người ghét cũng nhiều. Mà tại lão cũng đanh đá cơ. Cái lần kịch bản truyền hình của lão được dựng rồi phát ngay, cô biên tập viên quen gọi điện mang nhuận bút đến thì được nghe những lời thế này: “Thím đừng có mang nhuận bút đến đây, đừng bao giờ, kẻo nhìn thấy thím ta sẽ nhảy xổ ra bóp cổ thím rồi có đi tù cũng cam lòng”. Thế đấy.
Con gái tôi hồi lớp 4 được lão gửi tặng cuốn thơ Trần Đăng Khoa in rất đẹp. Nó ra lớp khoe với bạn, bọn bạn không tin. “Đích thân bác Trần Đăng Khoa tặng cậu á? Còn lâu”! Con bé tức quá hôm sau định mang cuốn thơ đến lớp để khoe. Nghĩ đi nghĩ lại thế nào nó lại đặt cuốn thơ lên giá sách: “Nhỡ các bạn thích quá lại lấy trộm thì sao?” Nó giải thích với tôi như vậy và nhất định không mang đi, dù có bị các bạn nghi ngờ. Rồi một hôm nó mang ghế ra giữa sân cùng cây bút và quyển vở, mặt đầy vẻ nghiêm trang. Tôi ngạc nhiên hỏi: “Con làm gì giữa sân nắng thế?” Nó đỏ mặt ấp úng: “Con định làm thơ như bác Khoa”. Tôi cũng không còn giữ được những câu thơ ngộ nghĩnh ngày ấy của nó.
Bây giờ cháu đã lớn và ước mơ không phải trở thành nhà thơ mà là một doanh nhân. Hôm gặp lại bác Khoa ở nhà nó nói thầm: “Ngày xưa con cứ mơ làm nhà thơ như bác Khoa ... Suýt nữa...” và ôm miệng cười khúc khích.
Thuỳ Dương