Dân số tăng lên đến chóng mặt. Hạ tầng cơ sở liên tục bị quá tải. Nhiều tệ nạn xã hội phát sinh. Nét văn hóa bản địa bị xâm thực… Đó là thực trạng tất yếu của các đô thị ở những nước đang trên đường phát triển. Hà Nội cũng không ngoại lệ.
Tiến về thủ đô
Theo một tài liệu, dân số thường trú Hà Nội hiện khoảng trên 3 triệu người. Thế nhưng dân số cơ học thì cao hơn rất nhiều, khoảng trên dưới 5 triệu. Vậy, gần 2 triệu người từ các tỉnh đã đổ về Hà Nội theo những ngả đường nào? Trả lời câu hỏi quả không phải dễ. Và không hiểu sao khi nghĩ về điều này, tôi cứ nhớ đến quan niệm của người xưa: “Hà Nội năm cửa ô, ba mươi sáu phố phường”. Năm cửa ô ngày nay vẫn còn được giữ nguyên tên gọi: Ô Cầu Dền, Ô Quan Chưởng, Ô Đống Mác, Ô Chợ Dừa, Ô Cầu Giấy; còn 36 phố phường thì đã bị thất lạc mất một vài tên gọi (do sự biến động của thời cuộc).
Riêng tôi vẩn vơ nghĩ, ngày nay, người ta vẫn tiến về Hà Nội bằng năm cửa ô nhưng không đơn thuần là các cửa ô - địa danh hành chính - mà là những cửa ô của những mục đích khác nhau. Tôi tạm gọi đó là năm nẻo đường Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ.
Cửa Kim là cửa của người lắm tiền, nhiều bạc. Họ là các doanh nhân nhờ nhiều năm buôn bán, cần kiệm tích lũy và cả một số công chức do làm ăn (và cả do... không phải làm ăn nhưng vẫn có tiền của) đổ về Hà Nội. Với tiềm lực tài chính, họ mua nhà cửa, xe cộ và nuôi con cái ăn học ở những cơ sở tốt nhất. Không ít những doanh nhân ra Hà Nội còn mang trong mình khát vọng chinh phục mảnh đất khốc liệt nhưng đầy tiềm năng với một thị trường rất lớn này.

Cửa Mộc là cửa dành cho những sinh viên sau khi tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng. Họ như cái cây muốn bám rễ ở mảnh đất phồn hoa nhưng cũng không ít giông gió này. Trong số họ, không ít người thành công nhưng cũng không ít hơn kẻ thất bại. Thế nhưng họ “thà chết quyết không rời... Hà Nội” nên dù ba năm, năm năm hay lâu hơn nữa không có việc làm, họ vẫn ở lại Thủ đô với rất nhiều hy vọng đổi đời.
Cửa Thủy là cửa dành cho những người lên Thủ đô như dòng nước. Họ là những người già, người về hưu lên ở cùng con cái hay ngược lại, con cái đi theo bố mẹ. Con cái theo bố mẹ thì không nói làm gì nhưng những người già cả thì không ít tâm sự. Tuy ở chốn phồn hoa đô hội nhưng do đã quen với cách sống nhà quê nên tâm trạng đầy gượng gạo kiểu “Lên thang không dám bước dài - Vào khu tập thể gặp ai cũng chào” (thơ Lê Đình Cánh). Nhìn chung, họ đầy đủ về vật chất nhưng khá cô đơn.
Cửa Hỏa là cửa dành cho những người trẻ tuổi, giàu nhiệt huyết. Họ không có tiền, không có nơi thân thích, không có cả nghề nghiệp nhưng vẫn muốn thể nghiệm khát vọng của mình. Những người này thành công thì ít, thất bại thì nhiều nhưng ai thành công thì đều ra tấm, ra miếng cả.
Cuối cùng là cửa Thổ dành cho những người nông dân bị mất đất (hoặc có rất ít đất) do việc tăng dân số và cả việc mở mang các khu công nghiệp. Sau khi nhận khoản tiền đền bù, họ xây nhà, mua sắm xe cộ rồi... ngồi chơi vì không còn đất đai để canh tác. Không còn đường nào khác, họ đành ra Hà Nội chỉ đơn giản để kiếm cớ sinh nhai. Những người này thích thì ở, không thích thì về. Thời vụ thì về quê cấy hái, hết thời vụ lại “thẳng tiến Thủ đô”.

Nhân sinh bách nghệ
Cổ nhân dạy, sinh ra mỗi người một nghề. Có một điều rất khó lý giải là trong làn sóng di dân, mỗi địa phương đều góp lên Hà Nội một nghề nghiệp mà vốn không liên quan gì đến truyền thống của họ.
Những người làm nghề xe ôm chủ yếu quê Nam Định. Đội quân mang biển số 18 này tràn ngập khắp các bến bãi, phố phường. Người Nam Định lên Hà Nội không bán phở thì chạy xe ôm. Những người làm "trái nghề" rất ít. “Có lẽ do người này rủ người kia, chú ạ”. Cậu chở xe ôm ở trước cửa cơ quan tôi lý giải. Còn những người làm nghề bán phở thì đại thành công. Phở Nam Định đang “đại náo” Thủ đô, đẩy phở gia truyền Hà Nội trên bờ “diệt vong”.
Người Thái Bình lên Hà Nội lại chủ yếu làm thợ nề mặc dù đây không phải là nghề truyền thống của họ. Trong khi đó, nghề tẩm quất (không phải mát xa) và nghề cắt tóc đa phần là người Bắc Giang. Cứ 10 anh “tẩm quất gia truyền” thì có tới 5 - 6 anh quê ở Bắc Giang. Đức, một thanh niên ở Lạng Giang là một nhà tẩm quất chuyên nghiệp dầu chẳng có tí tẹo nào cái gọi là gia truyền. Bố mẹ Đức là nông dân, Đức cũng làm nông nghiệp. Những ngày nông nhàn, Đức lên Hà Nội làm thêm. Nhà văn Hoàng Hữu Các kể rằng có dạo 3 năm liền ông không đến chỗ Đức tẩm quất. Lần gặp lại, "khách" thì nhớ "nhà hàng" nhưng "nhà hàng" đã quên "khách". Nhưng khi cởi áo, nhìn lưng ông nhà văn... chưa già, Đức đọc vanh vách tên tuổi, nghề nghiệp đến cường độ nặng nhẹ của các cú đấm bóp. Câu chuyện của ông làm tôi nhớ một chuyện vui, đại để rằng một vị huấn luyện viên bơi lội gặp một cô học trò ở siêu thị cứ ngớ người ra vì lý do “không nhận ra bởi hôm nay em... mặc váy”. Sành nghề đến thế là cùng.
Người Hưng Yên chủ yếu bán cây, cá cảnh và hoa quả. Cây đẹp, cá tốt cũng có mà cá bỏ túi ni lông, lợi dụng thấu kính của nước để “tô màu, phớng đại” và cây ghép bằng... keo con voi cũng không hiếm. Không ít người mua cá vàng về, nhìn qua túi ni lông to như con mè, con chép nhưng về thả vào bể thì hỡi ôi, chỉ là giống thòng đong, sọi cờ bé tẹo. Vận dụng quang học cho kinh doanh, dân bán cá cảnh Hưng Yên là số một.
Người Hà Tây thì chủ yếu là cung cấp thực phẩm như trâu, bò, lợn, gà, ngan, vịt và cả thịt chó cho các cửa hàng ở Nhật Tân. Thịt chó thui rơm vàng óng ả cũng có mà thịt chó bôi bột sắt (còn gọi là véc ni dùng để đánh bàn ghế, giường tủ) pha với mỡ hoặc dầu ăn rồi nhúng nước sôi xoa cho đều, cho bóng nhẫy lên cũng có. “Người Hà Nội cứ nhìn thấy mượt mà, óng ả là thích chứ thực ra, thuộc loại Thực bất tri khả vị bác ạ. Họ ăn bằng mắt chứ có ăn bằng mồm, bằng lưỡi đâu”. Một chủ quán nói với tôi.
Người Hà Nam thì phần đông làm nghề đồng nát. Cứ mười bà gánh gánh, gồng gồng với xoong thủng, ấm sứt và giấy báo thì có tới 6 - 7 người quê ở Hà Nam.
Các nghề mát xa tắm hơi, gội đầu thanh lịch hay phục vụ trong các quán bar thì người địa phương nào cũng có nhưng theo cảm nhận (khó có thể nói là chính xác), phần đông thuộc các tỉnh Thái Nguyên, Yên Bái, Tuyên Quang. Điểm mát xa chân ở khu vực Cửa Nam có một cô bé quê ở miền gái đẹp Tuyên Quang. Hiền, ngoan và rất nghiêm túc, nhất là trong chuyện tiền nong. Thế nhưng, khó có ai sau khi mát xa xong lại không dúi vào tay em ít nhất là 50 ngàn đồng. Đơn giản vì em đẹp, rất đẹp. Được một cô gái đẹp như hoa rừng, bàn tay mềm như nhung lụa uyển chuyển xoa bóp chân ta như nghệ sỹ dạo trên phím dương cầm, không "bo" cho em thì quả là thằng đàn ông bảy vía rưỡi. Vì vậy, thu nhập của em khá cao.
Các nghề lao động phổ thông còn lại thường là người từ các tỉnh miền Trung như Thanh Hóa, Nghệ An ra. Một điều đáng lưu tâm là những tỉnh có nền công nghiệp phát triển như Hải Phòng, Quảng Ninh hay Vĩnh Phúc rất ít người ra Hà Nội lao động kiểu này. Có lẽ, do nhu cầu lao động của các khu công nghiệp đã thu hút họ ở lại với quê hương. Điều này cho thấy, bài toán di cư chỉ có thể giải quyết tốt khi có sự phát triển công nghiệp đều khắp ở các địa phương.
Hà Nội không của riêng ai
Nếu chỉ nhìn ở góc độ tiêu cực, họ - những “công dân Hà Nội hạng hai” là một trong số nguyên nhân gây nên nạn tắc đường, chủ nhân của các ngôi nhà ổ chuột và nhiều tệ nạn xã hội khác. Còn ở góc độ tích cực, họ cũng chính là động lực để phát triển Thủ đô. Thế nhưng, nhiều năm liền, họ bị phân biệt đối xử nặng nề: Khi sinh đẻ không được cấp giấy khai sinh, khi lớn không được vào học các trường công, khi lấy vợ lấy chồng không được đăng ký kết hôn... ở Hà Nội.
Về hưởng thụ thì vậy nhưng về đóng góp, có thể khẳng định những “công dân hạng II” đã góp phần không nhỏ xây dựng Thủ đô. Xin khoan hãy nhắc đến những doanh nghiệp lớn mỗi năm đóng góp hàng tỉ đồng tiền thuế cho TP Hà Nội, chỉ xin đơn cử vài ví dụ nho nhỏ. Cạnh cơ quan tôi có một quầy bán rượu, thuốc lá và bánh kẹo. Chị chủ quán tên là Trần Thị Mai, quê ở Nghi Lộc - Nghệ An. Cách đây 8 năm, Mai ra Hà Nội mở quán hàng này. Tuy quán tầm tầm nhưng mỗi tháng, Mai phải trả 2 triệu 500 ngàn đồng thuê nhà và hơn 500 ngàn đồng tiền thuế. Như vậy cả môn bài và những khoản đóng khác, một năm Mai đóng góp khoảng 35 triệu đồng. Thế nhưng, Mai hầu như không được một quyền lợi gì trừ... các khoản thu. Thôi thì đủ thứ. Từ ngày lễ, ngày tết đến quỹ nọ, quỹ kia. Một người bạn khác của tôi lên Hà Nội làm cho tờ Nhà báo & Công luận của Hội Nhà báo Việt Nam từ năm 1997, hiện đang làm cho báo Khuyến học & Dân trí. Gần 10 năm trời gắn bó với Thủ đô trên nhiều lĩnh vực (anh là hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam), nhưng cho đến nay vẫn hộ khẩu quê nhà. Nhiều khi cám cảnh cho thân phận mình, anh thường đọc 2 câu lục bát được lưu truyền rộng rãi trong “giai cấp công dân Hà Nội hạng II”: “Người quê thì bảo thị thành - Người đô thị lại bảo mình nhà quê”.
Có thể nói, để có một Hà Nội hôm nay là công sức của người dân Thủ đô nói riêng và công lao của nhân dân cả nước nói chung. Tinh hoa của mọi miền trên đất nước đều dồn về cho Hà Nội. Hà Nội sẽ không còn là Hà Nội nếu thiếu đi những chè Huế, lẩu Sài Gòn, phở Nam Định, cốm Bắc Ninh, bánh đa Kế... Hà Nội cũng sẽ chẳng thể là Hà Nội nếu ngày nào đó, vắng đi tất cả những con dân của mọi miền đất nước. Hà Nội không của riêng ai.