Quảng Trị - nắng tháng 8. Tất cả như muốn hoá hơi, khô cong, chỉ có cỏ vẫn giữ một màu xanh, sao mà ngăn ngắt đến thế! Run rủi trong một chuyến đi xa, chiều nay, tôi ở giữa lòng Thành cổ Quảng Trị...
“Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ - Đáy sông còn đó bạn tôi nằm - Lứa tuổi đôi mươi thành sóng nước - Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm”.
Dòng sông máu của một thời trôi thật gần với nơi tôi đang đứng. Giờ thì tôi biết, chính giọng người đàn ông miền Trung nằng nặng đang nói về chiến tranh như rứt ruột ký ức kia đã gieo vào buổi chiều nay âm sắc của một thời. Anh kéo ngược lại thời gian và tôi - lớp người của hoà bình dường như lần đầu tiên lạnh người cọ xát với một phần khắc nghiệt của cuộc chiến ! Xuơng và máu!
Chang chang nắng, tứ bề vẫn một màu cỏ xanh ngút, hương khói theo gió vẽ đường lên với trời... Người đàn ông không ngừng lời, giọng nghe như có nước...
“81 ngày đêm ghi dấu Thành cổ Quảng Trị, bắt đầu từ 28/6 đến ngày 16/9/1972. Mỗi ngày địch huy động hai phần ba số máy bay ở ĐNÁ trút xuống 160 lượt bom B52 tương đương 328.000 tấn bom... san phẳng hoàn toàn thị xã và Thành cổ. Hơn 10.000 chiến sĩ trở thành liệt sĩ. Xét trên cục diện cuộc chiến, giữ được Thành cổ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Các anh đã ngã xuống để viết nên một VN hào hùng. ở đây, liếp cỏ xanh đã trở nên nghĩa trang liệt sĩ không nấm mồ...!”
Tôi từng được nghe bài hát Cỏ non Thành cổ, từng có lần được xem những thước phim tư liệu về cuộc chiến đấu nơi này... tất cả đã trở thành lịch sử! Giờ trước mắt tôi, cỏ non Thành cổ hiện hữu là đây. Cỏ xanh vốn tự ngàn đời, nhưng làm sao có thể một nơi nào có được liếp cỏ của những chàng trai cô gái tuổi đôi mươi, như chốn này?
Người đàn ông đưa tôi đi chiều ấy - anh Trần Khánh Khư - Trưởng ban quản lý Khu di tích Thành cổ Quảng Trị thuộc lớp trai trẻ một thời. May mắn hơn, anh không chỉ có cơ hội để trở về mà còn được gắn bó với mảnh đất đã trở thành máu thịt với anh! Giờ đây, ngoài công việc quản lý và hướng dẫn khách tham quan, anh dành nhiều thời gian với tâm nguyện tìm lại quá khứ cho những người nằm lại với đất. Chút một, chút một, anh lọc từ đổ nát hoang tàn tìm cho những người đồng đội một nơi chốn máu mủ để về. Nghe đâu đây, cuộc sống “bên ấy” vẫn song hành...!
Thành cổ đã bị vùi trong đổ nát và được hồi sinh khi Nhà nước quyết định tu bổ lại, xây dựng nơi đây thành di tích lịch sử quốc gia. Di vật của lịch sử thật khó có thể tìm lại được khi mà bom đạn đã băm vùi, thế mới thấy xót xa cho khu bảo tàng không có nhiều hiện vật nơi đây. Còn lại là khu trung tâm tưởng niệm, với lớp lớp ý tưởng, đa nghĩa bởi ba tầng Thiên- địa- nhân, với thuyết âm Dương... in bật trên cái nền không gian mênh mông của di tích. Thiêng liêng thấm lại chốn này!... Nhưng để là một di tích văn hoá xứng với tầm cần phải có thì Thành cổ dường như vẫn thiếu điều gì...?
Anh Khư không bác bỏ câu hỏi của tôi. Quả thật anh đang đau đáu tâm trạng chờ đợi sự hoàn thiện cho khu di tích, chờ đã lâu và cũng chưa biết cái đích đến bao giờ?
Từ năm 1998, một dự án đầu tư 11,5 tỷ được phê duyệt để xây dựng khu di tích Thành cổ. Đến nay, phần việc xây dựng khu tưởng niệm trung tâm, khu bảo tàng, làm đường nội bộ, kè hào, làm cổng đã xong nhưng còn phần việc quan trọng -gói thầu mỹ thuật vẫn trong tình trạng nằm chờ vốn! Trong khi đó, chính gói thầu mỹ thuật sẽ giúp cho di tích lịch sử này mang đậm đấu ấn văn hoá. 6 cụm tượng đài, 81 phiến đá lớn khắc ghi những ngày đêm máu lửa, bia khắc danh những chiến sĩ đã hi sinh, tái tạo lại ngôi nhà Tứ đình -nơi ngày xưa vua thường đến làm lễ, mạng lưới hầm hào quân sự... tất cả đang ngổn ngang trên giấy. Nơi này, vẫn chỉ còn liếp cỏ xanh... chờ đợi!
Cỏ Thành cổ đã trở nên biểu tượng sống. Nhưng tự thân cỏ không thể nói lên tiếng lòng mình. Nếu thiếu đi người hướng dẫn như anh Khư thì dễ gì đời sau có thể cảm nhận được Xương Máu đằng sau sắc xanh hiền hoà của Cỏ?!
Lần đến Thành cổ, tôi vô tình còn được chứng kiến phút trở về của một người lính chiến đấu tại vòng ngoài Quảng Trị những ngày ác liệt năm xưa: Anh Hà Duyên Lục - đại đội 8 tiểu đoàn 8 trung đoàn 66 sư 304. 84 tay súng và chỉ có 6 anh em trở về. Anh thương binh 3/4 dành dụm mãi để có được ngày hôm nay trở lại thăm chiến trường xưa, mắt mờ đục rịn nước, không thể nói điều gì...
Anh Khư nói, mỗi tháng khu di tích tiếp từ 2.500-3.000 khách đến tham quan, và trong đó còn có người lính năm xưa trở lại...
Tôi rất muốn có thể đưa được chút kỷ niệm từ Thành cổ về Hà Nội nhưng anh Khư bối rối cười, ở đây tiếc quá chẳng có gì. Những bưu thiếp, hay ấn phẩm văn hoá về Thành cổ Quảng Trị hết đã lâu đang chờ in lại. Làm di tích ở đây dường như vẫn chỉ có tấm lòng là chính. Trong khi khai thác văn hóa cũng là một cách để lưu dấu Thành cổ ở lại lâu hơn với người có cơ hội đến đây. Anh bảo, Quảng Trị còn khó khăn quá. Đó cũng là một lý do, nhưng chạnh nghĩ những tính toán lâu dài hẳn là cần thiết ngay từ lúc này. Tôi nhớ đến khu di tích địa đạo Củ Chi, nhớ đến cuộc sống kháng chiến hầm hào ngày xưa được người ngày nay tái hiện vừa gần gũi vừa thiêng liêng làm sao. Nhớ đến cả những món đồ lưu niệm rất riêng của một thời... Những điều ấy đâu có quá xa vời đối với Thành cổ Quảng Trị hôm nay!?
Thơ, ca, nhạc, hoạ... làm nên tượng đài nghệ thuật cho Thành cổ Quảng Trị. Tôi chỉ là người đến sau, bút lực mỏng không đủ để làm giàu thêm vốn nghệ thuật ấy, nhưng tự tâm muốn viết về mảnh đất tôi được đến hôm nay. Với ước vọng, di tích lịch sử quốc gia Thành cổ sẽ sớm được hoàn thiện. Thời gian chẳng thể ngừng, mai này, xin người vẫn nhẹ bước khi đặt chân nơi liếp cỏ Thành cổ! Cỏ, trời - 2 sắc vẫn xanh. Chiều, vơi nắng, chầm chậm về...!
Thu 2003 - Lưu Hương