Chủ Nhật, 10/12/2006 - 05:05

Nghiệp... “ăn cơm đứng”!

Có câu chuyện dân gian, rằng: anh đầy tớ nọ, hầu nhằm tay trọc phú hợm đời, lúc nào cũng bắt nói thưa rành rẽ có đầu có cuối. Một buổi, tên trọc phú hút thuốc rớt tàn lên áo, đến khi câu chuyện con tằm ăn tơ, tơ dệt áo… của anh hầu kết thúc thì chiếc áo của chủ đã bị cháy xém một vạt… Bỏ qua những yếu tố giáo dục, triết lý của người xưa, câu chuyện ấy, nó là một lời tổng kết cô đúc nhất về cái nghiệp “ăn cơm đứng” của những người dân vùng bãi gắn với vạt dâu, nong kén, con tằm…

Tôi cứ miên man ám ảnh bởi câu ca dân dã khi đặt chân đến làng tằm: “một nong tằm bằng năm nong kén, một nong kén bằng chín nén tơ...”. Hỏi bà cụ cao tuổi trong làng, rằng cái số lượng hoán đổi đầy "con số" trong câu ca ấy có ý nghĩa gì, thì được cụ “thủng thẳng”: đấy là cái kiếp luôn phải "ăn hụt", chịu thiệt của người chăn tằm, kéo kén. Phải xoay vần với cái nong, mẻ tằm để đánh đổi vất vả của mình thành những lọn tơ tinh tuý cho đời. Ơ! Thế ra, cái kén tơ mỏng manh, óng ả đến trau chuốt ấy, rốt cục là do con tằm nhả ra hay người trồng dâu, chăn tằm "rút ruột" mà có, hả giời?!

Cộng sinh...

Với người dân đất bãi, nghề nuôi tằm, kéo kén có từ lâu lắm. Có thể, nó xuất hiện cùng lúc với những dòng thủy lưu bồi tụ nên những bãi bồi mang nặng phù sa. Theo năm tháng, những bãi bồi ngày càng mướt mát, những bãi dâu cũng ngút ngàn tầm mắt thì cái nghiệp chăn dắt loài ấu trùng kỳ lạ ấy cũng đủ sức nuôi sống con người.


Thời nay, người trồng dâu phải đương đầu với những khó khăn mới. Mà muôn thứ, trước nhất vẫn là con giống, nhưng có những người "đi tắt", mua tằm non giá rẻ về bán lại, làm cho chất lượng tơ không đảm bảo - đó là chưa nói đến việc tư thương ép giá. Người ta chuyển sang nuôi tằm đất, đỡ vất vả mà lại cho năng suất. Trong lúc trắng đen lẫn lộn, tằm đẹp, tằm xấu chỉ nhỉnh hơn nhau không đáng kể, lại hợp với xu thế “ào ào” của hàng chợ, thị trường...


Theo chu kỳ của làng nghề, thời điểm vạt dâu cho lá non, con tằm vào lứa, đến thời điểm "tằm ăn rỗi" cũng là lúc tất thảy người dân vùng bãi phải tất bật sớm hôm. Từ khi tằm nở đến khi nhả kén là đúng 26 ngày "đánh vật" với nong nia, thúng mủng, với gùi dâu khi đưa về đến nhà vẫn còn nặng trĩu hơi sương. Trong 7 ngày tằm ăn rỗi, nhân lực được tập trung vào nhiệm vụ hái dâu, phải đảm bảo tằm lúc nào cũng được ăn no, có như thế chúng mới nhả được nhiều kén và chất lượng tốt. Một sào dâu thông thường cho 16 lứa kén. Mỗi lứa dâu đủ nuôi 2 vòng tằm, mỗi vòng đạt 15 cân kén. Người lành nghề, phải nhận biết, phân biệt được rõ con ngài đực và ngài cái để ghép đôi, úp giống, cho ra đôi ngài "tốt đôi". Ngày tháo nong, dỡ kén, bóc lớp dây nhợ củ từ được chuốt vỏ, ngâm nước áo cho sạch trắng ủ lên mặt nong, ngày ấy, làng tằm tất bật như trảy hội. Những "bà mối tơ" đánh tiếng được nhà nào có mẻ tơ tốt, tằm đều, đúng ngày hôm ra tơ đã quẩy quang gánh, đòn cân đến ngồi chờ từ sáng, đặng mua được mớ tơ đẹp...

Đấy là cái làng tằm ngày xưa, xưa lắm rồi. Còn thời nay, người trồng dâu cũng phải đương đầu với những khó khăn mới. Mà muôn thứ, trước nhất vẫn là con giống. Giống tằm nong (phổ biến nhất là tằm tam bội thể) đòi hỏi người nuôi phải trau chuốt, để ý chăm sóc từng li từng tý, từ mớ dâu cho tằm ngày ăn rỗi đến cả cái khí hậu nóng ẩm hàng ngày. Có những người "đi tắt", mua tằm non giá rẻ về bán lại, làm cho chất lượng tơ không đảm bảo. Đó là chưa nói đến việc tư thương ép giá. Chán! Người ta chuyển sang nuôi tằm đất, đỡ vất vả mà lại cho năng suất, bởi trong lúc trắng đen lẫn lộn, tằm đẹp, tằm xấu chỉ nhỉnh hơn nhau không đáng kể, lại hợp với xu thế "ào ào" của hàng chợ, thị trường... Mấy năm gần đây, giống tằm Trung Quốc được nhập vào VN đã "đánh bật" tằm nhà. Cùng với sự "di cư" của tằm Trung Quốc, những bãi dâu cũ cũng được phá bỏ để trồng dâu... Trung Quốc. Dân nuôi tằm cười buồn chống chế: Biết làm sao, có lẽ "tằm ngoại" hợp... khẩu vị với... "dâu ngoại", nên muốn có lãi, muốn làm kinh tế bằng cái nghề nhọc nhằn không đếm hết việc này, phải nghiến răng chấp nhận. Dù rằng, phá bỏ những vạt dâu gắn với bao thế hệ trong gia đình, nuôi bao lứa tằm, cho bao mùa kén... cũng đắng lòng lắm lắm!

Thương về... áo lụa Hà Đông

Bảo rằng, chỉ có vùng đồng bằng Bắc Bộ với những dòng sông lãng du dềnh dàng cùng bao bãi bồi, bao vạt phù sa tốt tươi những làng quê trù mật... mới có nghề trồng dâu nuôi tằm là sai, bởi cao nguyên mênh mông của Đức Trọng, Lâm Đồng cũng bạt ngàn dâu, cũng hối hả với nghề chăn tằm, kéo kén đấy thôi! Nhưng, cũng phải thú nhận một điều, cũng cái nghề ấy, nhưng chỉ có những làng quê Bắc Bộ mới có những câu chuyện nghề mà đọc lên đã nặng chất thơ. Cho nên, lang thang dọc hữu ngạn sông Hồng, từ bậc thềm của núi Tản xuôi về biển, ai chẳng rộn lòng với tiếng canh cửi tằm tang, với những cái tên ngọt mãi đến bây giờ và đi vào lịch sử bằng những kỳ tích như huyền thoại.

Về làng nghề Vạn Phúc, quê hương của áo lụa Hà Đông, hẳn nhạc sĩ lãng du người Bắc chợt giật mình trong "Nắng Sài Gòn em đi mà chợt nhớ, bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông" cũng phải chạnh lòng bởi cảnh "thương hải tang điền" của một làng nghề. Lọt qua giữa điệp trùng những cửa hiệu "Silk..." như ma trận, khách sẽ phải chịu áp lực của những âm thanh chát chúa, rền rĩ miên man của những... máy dệt lụa của làng nghề. Cơ giới hóa là một tất yếu, thế nhưng, giữa làng nghề ngàn năm ấy, vẫn thèm nghe một tiếng lách cách của con thoi, mà sự nhịp nhàng của nó cũng đủ cảm nhận một bàn tay con gái miệt mài, cẩn trọng ve vuốt những lọn tơ, tỉ mẩn nối những mối tơ bị đứt... cho tấm lụa được liền mạch mà những đường tơ ken đều, không lỏi...

Theo anh Hà Đức Dậu - một gia đình hiếm hoi còn theo nghề dệt lụa, thì số hộ dệt lụa ở Vạn Phúc bây giờ đã vãn đi nhiều lắm. Thời cao điểm, cả làng có tới 1.500 - 2.000 máy dệt với ngót vài ngàn lao động từ các vùng khác đến Vạn Phúc làm theo mùa vụ. Mấy năm trở lại đây, số đầu máy đã giảm đi phân nửa. Có nhà tháo máy bán sắt vụn, bởi cỗ máy dệt thời điểm mua vào là 15 triệu, bây giờ, bán 1 triệu cũng chẳng mấy ai mặn mà. Mà lý do của cơn bĩ cực ấy, lại gắn với một sự kiện hết sức... chính trị - đó là thời điểm 11/9 khi nước Mỹ bị khủng bố tại tòa tháp đôi. Trước đấy, hầu hết lụa Hà Đông theo các con đường tiểu ngạch, được các tư thương móc nối "xuất khẩu nhờ" thông qua thị trường Thái Lan, trực tiếp đưa sang Bắc Mỹ. Sau sự kiện này, những hộ như gia đình anh Dậu phải tự tìm cửa để đổ hàng. Một tuần một lần, vợ chồng anh lại rù rì cùng con xe cũ vào thành phố, với mớ hàng tấp tểnh sau xe... Chung quy, vẫn do lỗi "đầu ra" của sản phẩm, chứ việc làm ăn cứ thuận buồm xuôi gió, thì theo cách nói của anh Dậu: "Tôi làm rốn 15 phút buổi tối, thu nhập cũng bằng cả ngày của anh thợ phu hồ..."! Tôi cắc cớ: Những cửa hiệu ngay đầu làng nghề, có phải 100% lụa Hà Đông? Anh Dậu cười bí ẩn: "anh có dám chắc, có mặt hàng nào là không "dính" hàng Trung Quốc?". Rồi, ông thợ dệt làng lụa phẩy tay một cách "phớt đời": "Những tiệm silk gì đó, có nhà nào dệt lụa nữa đâu? Mà lụa làng tôi, nếu cứ chọn tơ, kén đũi mà dệt thì họa có mà bán cho... Tây à!?".

search