Thứ Tư, 14/01/2004 - 09:38

Cửa Tùng hôm nay

Tôi đã đi rất nhiều nơi, nhưng tôi bỗng có cảm giác như lần đầu tiên bước chân đến biển. Có lẽ tại Cửa Tùng là bãi tắm đẹp nhất ở Việt Nam. Cũng có lẽ không ở nơi nào mà tôi lại có được tâm trạng được trở về quá khứ bi hùng của một miền đất như ở nơi này.

Sóng vỗ mênh mang vào bờ cát đã kể cho tôi những ngày dữ dội. Có phải nước biển mạn chát, rất mạn ở Cửa Tùng đã góp phần tạo nên tính cách mạnh mẽ và sâu sắc của những con người miền biển ở đây. Trên doi cát nhô lên trên bãi biển, đám trẻ con đang chơi trò đào hầm, một đứa chui hẳn người vào trong ôm cát bằng hai cánh tay vòng lại trước mặt, còn hai đứa kia túm chân lôi ra. Mỗi lần chui vào cậu bé lại lôi ra được một ít cát. Hình ảnh ấy khiến tôi nhớ đến hệ thống địa đạo Vịnh Mốc, khu địa đạo đã cất giấu lương thực vũ khí, người để tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ trong những năm chiến tranh. Tại Vịnh Mốc, 17 đứa trẻ được sinh ra và lớn lên trong hầm và có một nhà thơ đã thốt lên: "Tuổi thơ con có những gì? Con nằm với đất con đi với hầm". Trưa, trời nắng ráo và trong vắt. Tôi đã được người ta chỉ cho đảo Cồn Cỏ từ trên tầng 3 khu nhà nghỉ Cửa Tùng. Từ Cửa Tùng đến Cồn Cỏ đúng 28 km, nếu chạy bằng tàu thì phải mất khoảng 2 giờ đồng hồ. Vậy mà trong cuộc kháng chiến chống Mỹ trước kia, đây những người chèo đò đã đưa những chuyến hàng đi chỉ bằng đôi mái chèo và sức lực của mình. Họ đã đi cả đêm, nhất là những đêm tối trời, không trăng sao. Bây giờ, nhìn những con tàu đánh cá cập bến cùng những chiếc thuyền thúng câu ghẹ và mực giữa trời biển thanh bình mà vẫn phải vật lộn với từng con sóng để đưa chiếc thuyền vào bờ, mới thấy hết sức mạnh và sự anh hùng của những chuyến tiếp tế đến Cồn Cỏ trong mưa bom bão đạn. Những ngày ở đây, may mắn cho tôi đã tiếp xúc với một người anh hùng đã từng sống những ngày oanh liệt đó. Ông là Lê Văn Ban - anh hùng LLVTND ở thôn Tùng Luật, xã Vĩnh Giang, Vĩnh Linh, Quảng Trị.

Trước mặt tôi là hàng rào cây ô rô được xén tỉa gọn gàng và ngôi nhà mái bằng xinh xắn. Một ông già mặc chiếc áo màu bộ đội, mái tóc đã bạc quá nửa đang ngồi đóng gạch táp lô. Ông hơi nặng tai nên tôi phải nói to hơn bình thường ông mới nghe thấy. Ông bảo: Ngày xưa còn trẻ, nghe tiếng bom nổ suốt ngày nên tai cũng bị ảnh hưởng. Chẳng riêng gì ông, những người cùng thế hệ của ông nếu không đi sơ tán thì ai cũng thế cả. Ông niềm nở đón vừa đón khách và nói: Phải làm việc cho khoẻ, bây giờ già rồi, ngồi một chỗ là yếu liền hà. Ông bắt đầu chở thuyền chuyến đầu tiên là năm 1965, mới 17 tuổi, lúc đầu chỉ là 1 trong 12 tay chèo với thuyền trưởng là một người cùng làng. Năm sau, người ấy hi sinh nên ông Ban lên thay. Trong suốt 2 năm từ 1965 đến 1967, anh thanh niên Lê Văn Ban cùng những thanh niên của làng Tùng Luật đã đưa trót lọt hơn 100 chuyến hàng ra đảo Cồn Cỏ. Hỏi chuyến nào ông thấy đáng nhớ nhất? Ông suy nghĩ một lúc lâu rồi kể, đó là chuyến chở nhà văn Nguyễn Khải cùng đoàn văn công Quân khu 4, đoàn công binh khu 4 (ra xây dựng đảo). Lúc đi thì không sao nhưng lúc về thì được lệnh đất liền không cho vào, cách đất liền 8 km thì bị ném bom, 2 thuyền của ông hôm đó đã chọi lại 5 đợt tấn công của địch, sau đó thuyền gặp gió mùa đông bắc nên bị lạc. Khoảng 10 giờ trưa hôm sau đoàn mới biết là đã bị giạt vào phương Nam, nghĩa là gặp địch. Tình thế đặt ra lúc đó là hoặc là đầu hàng, hoặc là quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh ông chọn phương án 2. Khi lái thuyền vào cách đất liền 100 m thì cho một người trong đội lên bờ và cho ám hiệu. Nếu là vùng giải phóng thì giơ hai tay lên trời, nếu là vùng địch chiếm thì giơ một tay. Còn những người trên thuyền súng ống đã lên đạn sẵn sàng... Nhưng thật thật may cho ông và đoàn thuyền vì đó là vùng giải phóng đã được giải phóng 8 tháng rồi.

Tôi biết ông Ban đã từng gặp Bác Hồ 4 lần, tôi hỏi ông có còn giữ tấm ảnh nào chụp cùng Bác Hồ không? Ông bảo: Chả còn gì cả, mấy đợt Mỹ ném bom B52 bị cháy hết rồi. Đến 3 lần chết hụt thì chẳng còn gì cả. Tôi hỏi tiếp: Thu nhập chính bây giờ của bác gì? Ông tính: Là anh hùng thì được 120.000 đồng/tháng, là thương binh nên được 179.000 đồng/tháng, cộng với 175.000 đồng tiền hưu vì trước đây là cán bộ nên được cả thảy là 475.000 đồng. Ngoài ra đóng thêm gạch táp lô (ngoài Bắc gọi là gạch ba vanh) bán cho bà con nên mỗi tháng cũng thêm được chút đỉnh. Ông Ban có 3 người con, 2 người đã lập gia đình, chỉ còn cô út là ở với ông bà. Hàng ngày bà bận mải với mảnh ruộng mảnh vườn còn cô út thì buôn bán ngoài chợ. Theo ông thì cuộc sống như vậy là ổn định, cũng chẳng mong gì hơn nữa, mình già rồi thỉnh thoảng làm được gì giúp được cánh trẻ thì làm thôi, việc làm việc nước nếu cần thì mình đến. Năm 2001 bác vừa đi ra Thủ đô đấy, gặp cả bố đẻ của anh hùng Nguyễn Bá Ngọc.

Trước khi về, ông Ban cứ giúi vào tay tôi mấy củ khoai mà vợ ông vừa luộc xong, tôi đùa, cháu còn nhiều bạn lắm, mấy củ thế này không đủ chia đâu. Ông cười, trút cả đĩa khoai vào túi tôi và bảo: Khoai ở đây rẻ lắm, quà ở quê chẳng có gì. Cầm cho ông già này vui. Đưa tôi ra đến cuối làng, bên bờ sông Bến Hải, cạnh tượng đài ghi dấu chiến công của những người chèo đò tiếp tế cho đảo, ông bảo: "Nhiều người không thích tượng đài này vì nó nhỏ quá, họ mong muốn một tượng đài có thuyền, có mái chèo, có hình ảnh của người chèo đò cơ". Tôi cũng chỉ biết ghi lại ý kiến ấy của ông và rất nhiều người dân ở đây mà cũng chả dám hứa trước một điều gì...

Hoàng Điệp

search