Giọng nói ề à, nụ cười hề hề khệ khệ hai với hai là bốn, nhưng phóng sự thì rất ấn tượng với khả năng sử dụng ngôn ngữ và lẩy bẻ chi tiết sắc sảo. Nhỏ nhẻ, chắt gặn từng giọt đời sống vừa hoang sơ lại vừa sực ấm của những miền rừng hoang, ghi chép - phóng sự của anh làm cánh nhà báo chúng tôi cảm thấy cuồng chân, có cái gì đó như là... ghen tị.
Bạn tôi, có lần, cứ gõ giày cồm cộp vào hộc bàn máy lạnh như con ngựa chồn chân, ngửa mặt than rằng: Sao mình khổ thế, lão Minh Thư lại lên với dốc cổng trời Mường Lống, Mường Xén, lại sang với đêm bình yên Phôn Sa Vẳn nước Lào rồi kìa... Tôi nghe mà mừng cho cái đời lang bạt của Minh Thư. Đó cũng là lý do để những phóng sự “đặc sản” núi rừng của anh được rất nhiều giải thưởng.
Chàng giáo viên cắm bản đi viết báo
Xứ Nghệ là mảnh đất trời sinh ra đã màu mỡ cho báo chí, bởi biển quá rộng và rừng thì quá hoang. Chuyện cũ cần khảo cổ cũng nhiều mà chuyện mới đôi khi nháo nhào cũng lắm. Các tờ báo lớn đều có văn phòng đại diện ở đây. Minh Thư giờ là đại diện cho Báo Nhân Dân, thường trú tại Nghệ An. Nhưng anh em chúng tôi vẫn quen gọi anh là “trưởng bản” Minh Thư. Cái chất già làng trưởng bản toát lên từ ngoại hình râu ria xồm xoàm, từ giọng nói trẻ con “lẫm chẫm” đi của anh. Nhà anh ở cửa rừng quốc gia Pù Mát, khu rừng nguyên sinh và rộng lớn đệ nhất nước ta, ven sông Giăng, con sông có cái tên thơ mộng nhất VN. Từ nhỏ, anh sống với người Thái và người Đan Lai (cộng đồng người “theo dấu chân nai đi trồng hạt lúa, theo dấu chân cọp đi trồng hạt ngô”, ngay trong vùng lõi của Vườn quốc gia, giờ phút này vẫn còn chưa xong công cuộc hạ sơn lập bản). Học xong cấp ba vào bộ đội, Minh Thư là lính xế trên những chiến xa. Rồi bỗng dưng rẽ ngoặt đi học sư phạm, ba năm làm giáo viên cắm bản, 10 năm làm Đài PT - TH huyện, “leo” lên đến Trưởng đài. 10 năm làm Báo Nghệ An và nay, là đại diện của Báo Nhân Dân. Cái lý lịch này làm cho phóng sự của Minh Thư có “phong vị già làng” bên bếp lửa.
Đủ sức leo núi phá cây thuốc phiện trồng trái phép đã là dạ sắt gan vàng với bài viết lắm rồi. Nhưng, máu thịt với vùng đất, với phận người nơi biên ải đến như thế này thì hoạ hoằn chỉ có già làng Minh Thư. Anh viết:
“... Chiều hôm sau, chúng tôi lọt trong hun hút đại ngàn bốn bề sương giăng của một vùng rừng thuộc bản Kẹo Bắc. Đi tới lúc sương vừa tan, mới giật mình thấy dưới chân muôn vàn hoa anh túc đang khoe sắc... Ông trưởng bản Kẹo Bắc đang cùng đoàn công tác phá nhổ một nương thuốc phiện, không may đột ngột trúng gió gục chết ngay trên nương thuốc phiện. Ông Moong Biên Phòng và đoàn công tác bị một số kẻ xấu lợi dụng xúi giục dân bản vây bắt về làm con tin “đền mạng” cho ông trưởng bản. Đêm đó, chúng tôi thức trắng đêm cùng với cái đói, rét thấu xương của miền biên ải. Mất một ngày sau nữa chúng tôi mới được giải thoát và cùng làm tang ma cho ông trưởng bản Kẹo Bắc. Ngỡ lần đó là lần cuối cùng phải lên Na Ngoi chứng kiến việc đi phá nhổ cây thuốc phiện, nào ngờ...”. (Trích phóng sự “Lên Na Khướng đánh phù dung”).
Cái chết của ông trưởng bản. Những nương thuốc phiện, những lần đói rét thập tử nhất sinh mà Minh Thư đã trải nghiệm năm xưa, tất cả đã làm cho câu kết nhẹ mà xót như một cung đàn rỏ máu mà tác giả tấu lên: “Thì ra nỗi nhớ ả phù dung ở vùng biên ải này vẫn còn khắc khoải chưa nguôi”.
Minh Thư cũng làm tôi thấy thèm được đi chín bản mười mường, khi anh táo bạo nằm trong những cái bản ma tuý mà ở đó “chỉ có đàn bà, trẻ em và... con nghiện”. Khi anh đột kích lên ngọn núi chết người mà bọn xấu buôn ma tuý với hàng tải súng ống găm đầy. Anh đau đáu với “ảo mộng miền rét sương” qua việc người ta (vì đói, thiếu hiểu biết) bị kẻ xấu dụ dỗ vượt biên đi tìm miền đất hứa. Cũng trong những đêm tịch mịch đèn dầu, anh đã được trưởng bản Vừ Vả Rùa kể cho câu chuyện huyền hoặc để viết phóng sự “Chảo gang không còn trên Pù Quặc nữa”. Bài nào của anh cũng mơ màng cổ tích, đẫm màu xanh diệp lục, rồi anh lẩm bẩm chỉ cho tôi, Mường Lống này, Lưu Thông này, chỗ này ngày xưa trồng cây anh túc, nó cho nhựa “ngon” lắm. Xưa, đất cằn, anh túc kém hoa là bà con lại bẩy cái chảo gang ra khỏi bếp lò. Họ cõng chảo gang đi lặc lè như con rùa mai đen, nhưng chẳng có ngọn núi nào vắng được dấu chân họ. Rồi cũng trong một đêm như thế, anh nhà báo vốn là giáo viên cắm bản đã thảng thốt viết: “Tôi xuống núi, chia tay các cô giáo viên cắm bản trong tâm thế của một người chạy trốn. Chạy trốn bởi nỗi đau cay xé lòng, như lời cô giáo Lê Thị Châu nói: “Đã là năm thứ mười em dạy ở Bắc Lý. Bọn em lên đây “cắm” bản một mình nhiều đêm buồn khóc một mình, khóc chán đành nghĩ cách đem rượu ra ngậm. Ngậm rồi nuốt, mỗi đêm một chút đến nghiện lúc nào không hay”. (Phóng sự: Những “mầm già” trên Phà Coóng)
Viết đến bạc đầu chưa hết chuyện quê mình
Lận đận với miền rừng miền Tây xứ Nghệ, Minh Thư đến với thể loại phóng sự hơi muộn so với cái tuổi ngũ thập hôm nay của anh. Song, cũng như khi anh mụ mị đưa tôi băng qua rừng săng lẻ cổ thô, đi hết cả Nậm Nơn, Nậm Mộ lên Mường Lống, “ngược Ơ Đu”, sang với đất bạn Xiêng Khoảng; cũng như khi khóc với cô giáo ngậm rượu giải sầu mà nghiện... những lúc ấy, Minh Thư quan niệm rất rõ: Sống đã rồi hẵng viết. Tôi tin, lúc đó anh đã tạm quên mình là nhà báo. Đơn giản, anh là người con của miền sông Lam núi Hồng. Quê anh là miền Trà Lân trúc chẻ tro bay mà ông Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô đại cáo. Anh đưa tôi ra thăm cái pho cổng cũ, cây dại phủ trùm xoà của “Phủ Tương” thuở trước. “Bấy giờ cả miền Tây xứ Nghệ này là đất của Phủ Tương”, nói rồi, Minh Thư tựa lưng vào đại ngàn Pù Mát, phóng mắt ra sông Lam. Tại nơi này, anh đã sống với người Lào từ nhỏ. Người Đan Lai ở gần xã anh, năm đến lại khắc một vệt lên cán dao rừng để đếm tuổi mình, tối đến ngoắc cái “cắng” (chạc cây) vào cằm để ngủ ngồi phòng thú dữ và giặc giã. Anh đã là cán bộ huyện, là giáo viên cắm bản. Anh đã học năm sáu “nội ngữ” ấy từ thuở lọt lòng.
Hoá ra, chỉ riêng kể chuyện quê mình, Minh Thư có viết đến bạc đầu cũng chưa hết.