Mục tiêu 500 triệu USD doanh thu phần mềm vào năm 2005 coi như phá sản, bởi năm 2003 mới đạt 120 triệu USD, trong đó xuất khẩu phần mềm mới đạt 30 triệu USD. Các DN phần mềm giờ đây thực tế hơn và họ đang hướng mạnh sang thị trường Nhật Bản với nhiều cơ hội đón đợi. Hội thảo đào tạo nguồn nhân lực phần mềm cho hợp tác Việt - Nhật vừa được tổ chức nhằm tìm ra giải pháp tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của các DN CNTT đang tìm kiếm cơ hội tại Nhật Bản.
Đào tạo CNTT chưa đáp ứng nhu cầu của DN
Hàng năm, hệ thống ĐH cung ứng 5.000-6.000 kỹ sư CNTT/năm. Con số này chưa thể đáp ứng được nhu cầu phát triển ngành CNTT. Thống kê từ Công ty FPT cho biết: Tốc độ xuất khẩu phần mềm cao trong khi trên thực tế, nguồn nhân lực biết tiếng Nhật hiện đang thiếu trầm trọng. Dự kiến, đến năm 2009, công ty này sẽ cầntới 2.000 lập trình viên, và tới năm 2014 cần khoản 12 - 17.000 người. Nhìn chung, số lượng đào tạo kỹ sư CNTT do các trường ĐH công, ĐH dân lập, ĐH mở bán công... tuy tăng số lượng nhưng chất lượng chưa cao. Ông Trương Gia Bình - Chủ tịch Hiệp hội phần mềm VN đánh giá: "Mảng kỹ năng của những sinh viên công nghệ thông tin khi ra trường hoàn toàn rỗng. Những kỹ năng đó bao gồm tính kỷ luật, khả năng làm việc nhóm, quản trị đề án, tiếp cận quy trình chất lượng và đặc biệt là trình độ tiếng Nhật và giao tiếp”. Ông Bình đánh giá, hầu hết những nhân viên mới được tuyển tại các công ty phần mềm đều phải dành 30% thời gian của 3 - 4 năm đầu để vừa đào tạo, vừa làm khiến năng suất lao động giảm đáng kể. Kinh nghiệm của Công ty THHH Sáng Tạo cho thấy: Để trở thành lập trình viên làm việc cho các doanh nghiệp Nhật, phải có ít nhất từ hai đến bốn năm học tiếng Nhật tại các trường chuyên dạy tiếng ngôn ngữ như các trường Nhật ngữ Đông Du, Nhật ngữ Sakura, và phải hoàn tất xong ít nhất là sơ cấp, tám lớp mỗi lớp ba tháng. Lập trình viên VN được đánh giá cao tại Nhật Bản, có chuyên môn tốt, có văn hóa tương đồng và trung thành với Cty. Nhược điểm chính của nhân lực VN là kỹ năng làm việc theo nhóm, theo tập thể còn kém, tính kỷ luật yếu, khả năng giao tiếp bằng tiếng Nhật không đạt yêu cầu. Không chỉ là chuyện xuất khẩu nguồn lao động có kỹ năng lập trình sang Nhật, trong một vài năm tới, khi các công ty Nhật Bản triển khai những chương trình ERP của thế giới thì khối lượng công việc làm outsourcing (thuê nhân công giá rẻ nước ngoài) cho Nhật Bản sẽ bùng nổ. DN VN có thể nắm lấy cơ hội này để làm thuê phần mềm cho các Cty Nhật.
Kế hoạch đào tạo dài hơi?
TS Mai Liêm Trực - Thứ trưởng thường trực Bưu chính Viễn thông, khẳng định Việt Nam sẽ bằng mọi cách để không bỏ qua cơ hội hợp tác với người Nhật. Làm thế nào và bằng cách nào thì cả Nhà nước, doanh nghiệp và các nhà giáo dục sẽ tiếp tục bàn bạc. Ông Hoàng Quốc Lập - Chánh Văn phòng Ban chỉ đạo quốc gia về CNTT cho biết, chương trình đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hợp tác Việt-Nhật phát triển trong lĩnh vực phần mềm gồm năm chương trình: Đào tạo nguồn nhân lực CNTT trình độ ĐH và sau ĐH; đào tạo ngắn hạn; Xây dựng trung tâm nguồn lực phần mềm nguồn mở; Xây dựng trung tâm sát hạch kỹ sư CNTT theo chuẩn kỹ năng Nhật Bản; Xây dựng thị trường gia công cho Nhật Bản. Trường ĐH Bách khoa Hà Nội là một địa chỉ đào tạo có uy tín nhân lực CNTT. Phó Giáo sư Tiến sĩ Lê Cộng Hoà - Phó Hiệu trưởng Đại học Bách khoa Hà Nội, đã đề xuất một dự thảo kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực bậc cao về CNTT cho thị trường Việt - Nhật. TS Hòa cho biết: Hiện ĐH Bách khoa Hà Nội đang có chương trình đào tạo kỹ sư cơ khí, vật liệu bằng tiếng Nhật; từ năm 2005 sẽ mở thêm đào tạo kỹ sư CNTT bằng tiếng Nhật. Đồng thời, tham gia các hoạt động hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản nhằm thực hiện Sáng kiến Châu á về CNTT (AITI) của Nhật Bản. Tổ chức các chương trình lưu học ngắn hạn một tháng ghép vào chương trình học tập của trường như giảng bài, thực tập, kiến tập ở các trường ĐH Keio, Ritsumeikan, ĐH Kỹ thuật Nagaoka... và tại các công ty nước bạn. Nguồn kinh phí dự kiến phía Nhật sẽ tài trợ những chương trình học tiếng và văn hoá Nhật, các phần đào tạo khác sẽ do chính phủ hai nước lo. Việt Nam sẽ thảo luận việc vay vốn ODA của nước đối tác. Tuy nhiên, TS Hoà cũng đặt vấn đề về việc làm cho những người theo đuổi chương trình đào tạo này: "Chúng ta sẽ đảm bảo như thế nào về tương lai của các sinh viên tốt nghiệp. Chúng tôi muốn rằng Chính phủ và các doanh nghiệp cần có kế hoạch cụ thể và khẳng định sự bảo trợ về công ăn việc làm cho họ sau khoá học".
Ý tưởng về một Đại học Nhật Bản được hình thành từ những bức xúc về nguồn nhân lực trong xuất khẩu phần mềm của các doanh nghiệp. Đây là sự trông đợi lớn từ DN đối với Bộ Bưu chính Viễn thông và các trường đại học.
H.Ly