Thứ Sáu, 02/09/2011 - 08:57

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân là gốc

Bài học hàng đầu của Đại hội VI (12-1986) - Đại hội mở đầu sự nghiệp đổi mới - là “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt “lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”. Sau hơn 25 năm đổi mới, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), tinh thần bài học “lấy dân làm gốc” được nêu cụ thể hơn: “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Như vậy, Đảng ta đã quán triệt sâu sắc quan điểm Đảng và cách mạng VN phải lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động.
 

Với tư tưởng lấy dân làm gốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường gần gũi với nhân dân,
tham gia nhiều hoạt động cùng nhân dân
 
Trong di sản Hồ Chí Minh, nhiều lần chúng ta bắt gặp các cụm từ “dân là gốc”; “nước lấy dân làm gốc”; “dân là chủ, dân làm chủ”, “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”; “bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương đều do dân cử ra”; “công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”; “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”; “nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”...

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân là gốc cần được nhận thức rõ ràng, có hàm lượng khoa học trên hai mặt: Dân là ai ? Và những khía cạnh nào là gốc trong dân?

Ở phương diện thứ nhất, cần được nhìn nhận theo các lát cắt sau đây:

Một là, toàn dân, tất cả công dân VN. Trong Hiến pháp 1946, khi nói tới chính thể nước VN Dân chủ Cộng hòa, ghi rõ “tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân VN, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Bác Hồ nói rằng chức Chủ tịch nước mà Bác giữ là do đồng bào ủy thác.

Hai là, dân là cử tri tức là những người đủ điều kiện theo luật định được đi bầu cử.

Ba là, nhân dân là nghị viên (đại biểu Quốc hội) trong Nghị viện (nay gọi là Quốc hội) là những người được cử tri bầu, thay mặt toàn thể nhân dân giải quyết những vấn đề chung cho toàn quốc. Ba cấp độ: đồng bào, cử tri và đại biểu Quốc hội, tùy theo điều kiện để họ thể hiện vai trò gốc của mình.
Thứ nhất, dân là gốc, tiếp cận theo góc độ Nghị viện nhân dân là cách tiếp cận gián tiếp, đại diện. Nói gián tiếp, đại diện không có nghĩa là không quan trọng, ngược lại có nhiều vấn đề duy nhất chỉ giải quyết theo cách gián tiếp. Đó là “đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà chính phủ ký với nước ngoài (Điều thứ 23 Hiến pháp 1946). Có quyền bãi miễn các đại biểu mình bầu ra (Điều thứ 20 Hiến pháp 1946). Tuy nhiên, ở Điều 20 này, “dân Nghị viện” phải phụ thuộc vào toàn dân như Điều 41 Hiến pháp 1946 quy định: “Nghị viện phải xét vấn đề bãi miễn một nghị viên khi nhận được đề nghị của một phần tư tổng số cử tri tỉnh hay thành phố đã bầu ra nghị viên đó”.

Thứ hai, dân là gốc, tiếp cận dưới góc độ toàn dân, đồng bào. Trong Hiến pháp 1946 có nói tới “nhân dân phúc quyết”, “toàn dân phúc quyết”. Vấn đề này, cho tới nay, trong nhận thức vẫn còn những cách hiểu khác nhau. Và vì vậy, trên thực tế, chưa được thực hiện. Hiến pháp 1946 cũng nói rõ “cách thức phúc quyết sẽ do luật định”. Vì luật chưa định nên chưa thực hiện được. Đồng bào và cử tri ủy thác quyền lực cho Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên của bộ máy Chính phủ.
\
Điều 21 của Hiến pháp 1946 ghi rõ: Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia”. Điểm c) Điều thứ 70 ghi: “Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết”. Ở đây có ba điểm cần có sự thống nhất trong nhận thức. Một là, nhân dân ở đây rõ ràng cần được hiểu một cách dứt khoát là toàn dân, không phải là Nghị viện. Hai là, Điều thứ 32 nói rõ, nếu được hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý thì mới đưa ra nhân dân phúc quyết. Như vậy, không phải mọi thứ liên quan tới vận mệnh quốc gia là “tự nhiện, tự động” đưa ra nhân dân phúc quyết, mà toàn dân phải phụ thuộc vào hai phần ba “nhân dân Nghị viện” (Nghị viên). Ba là, cách thức phúc quyết thế nào thì chưa có một quy định cụ thể, và chỉ khi nào có luật định cụ thể thì mới thực hiện được việc “toàn dân phúc quyết”. Điều này, trước đây do chiến tranh chưa làm được thì nay trách nhiệm thuộc về Quốc hội. Nếu không làm được điều này thì “toàn dân phúc quyết”, trưng cầu dân ý, dân chủ trực tiếp chỉ là trang trí, hình thức.

Thứ ba, để nhận thức có chất lượng khoa học vai trò “dân là gốc” cần khám phá tư duy so sánh của Hồ Chí Minh. Người hay so sánh người chủ với đày tớ. Đây là những khái niệm hẹp, thường dùng trong gia đình. Hồ Chí Minh sử dụng khái niệm này trong phạm vi rộng, quốc gia, quản lý đất nước. Biên độ rộng hẹp khác nhau nhưng tính chất và chức năng giống nhau, tức là đều bàn tới vai trò, vị trí của từng đối tượng trong mối quan hệ với nhau. Trong phạm vi gia đình, địa vị người chủ quyết định mọi việc. Trong phạm vi đất nước, nhân dân (cả hai cách tiếp cận Nghị viện và toàn dân) - với địa vị người chủ- cũng quyết định mọi việc, theo tinh thần “toàn dân phúc quyết”. Còn chính phủ là công bộc - đày tớ của dân. Đảng ta phải “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” (Di chúc) theo tinh thần “cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”. Người nói: “Dân làm chủ thì chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng” (Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.8, tr.375...) So với quan niệm hẹp trong gia đình thì ở phạm vi quốc gia, chính phủ, Đảng, cán bộ vừa là người phục vụ (đày tớ) vừa là người lãnh đạo.

Liên quan tới khái niệm chủ - đầy tớ là sự so sánh cán bộ với dân, đặt cạnh dân mới hiểu cán bộ và so với dân thì cán bộ có quyền. Ở đây, có hai khía cạnh liên quan cần được làm rõ: Thế nào là cán bộ? Thế nào là lãnh đạo? Nếu tách khái niệm “cán bộ” và “lãnh đạo” khỏi “đầy tớ” thì sẽ không bao giờ nhận thức có chất lượng khoa học vị trí, vai trò gốc của dân. Hồ Chí Minh dạy: “Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sdd, t.12, tr.555..) Và Người giải thích thế nào là lãnh đạo: “Lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và phải làm cho tốt” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sdd, t.12, tr.222...)
Ở phương diện thứ hai, những khía cạnh nào được coi là gốc trong dân? Gốc là cái, là nơi từ đó sinh ra; là nguyên nhân, cơ sở của sự việc. Dân là gốc của nước được hiểu nước mạnh hay yếu là từ dân, do dân theo tinh thần “dân là dân nước, nước là nước dân”. Gốc trong dân là tài dân (trí tuệ, sáng tạo), sức dân (lực lượng), của dân (vật chất, tiền thuế), quyền hành nơi dân, dân ủy quyền cho cán bộ. Bác nói: “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sdd, t.5, tr.295...). Người lại nói: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sdd, t.5, tr.293...) Những điều Bác dạy, suy cho cùng, quan trọng nhất trong cái gốc của dân là lòng tin của dân vào Đảng và chính phủ và quyền hành ở dân. Khi dân đã tin Đảng và chính phủ thì họ sẵn sàng ủng hộ mọi thứ từ vật chất, tiền bạc, lực lượng, trí tuệ đến cả việc không ngại hy sinh tính mạng của mình. Ngược lại, một khi dân không còn niềm tin nữa, thì dân oán. “Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị là thất bại” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sdd, t.5, tr.293...); “Cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sdd, t.5, tr.286)

Như vậy, tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng xét dưới nhiều phương diện thì vị trí, vai trò của toàn dân là quyết định mọi việc, không gì có thể thay thế. Sự quyết định này ở lòng tin và quyền hành của dân. Đây chính là chất lượng khoa học trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân là gốc.

Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Có những việc chúng ta nhận thức và thực hiện tốt, nhưng cũng có những việc chúng ta nhận thức và làm chưa đúng theo di huấn của Người. Trong nhận thức về vai trò, vị trí của dân có những khía cạnh ta làm chưa tốt, trong đó có vấn đề dân là gốc, dân là chủ theo tinh thần quyền hành ở dân, dân quyết và trưng cầu ý dân, tạo được lòng tin của dân. Nếu bàn tới dân là gốc, dân là chủ mà chỉ dừng lại ở Quốc hội (dân là Nghị viên) theo tinh thần  dân chủ gián tiếp, dân chủ đại diện thì chúng ta bỏ rơi, quên đi một phần rất quan trọng, có ý nghĩa to lớn, liên quan tới vận mệnh quốc gia là dân chủ trực tiếp (dân là toàn dân). Toàn dân đang kỳ vọng ở Quốc hội phải có luật định không chỉ để dân (toàn dân) làm mà còn là dân nói, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát và dân quyết.

Mặt khác, toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đảng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là từ sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng. Chỉ có như vậy thì mới được dân tin, dân phục, dân yêu, giữ được lòng tin của dân với Đảng và chính phủ. Mà trận địa lòng dân là vững chắc nhất để bảo vệ Đảng và chế độ.
 
Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9 năm 1945, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm nên một kỳ tích mang tính thời đại, mở ra một chương mới huy hoàng về sự phát triển của đất nước. Nhớ lại những ngày này, chúng ta nhớ về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhớ về tư tưởng của Người mà trong đó rõ nét nhất là tư tưởng lấy “dân làm gốc”. Tư tưởng đó của Người xuyên suốt mọi thời kỳ, mọi hoàn cảnh, trong nhiều lĩnh vực, bao gồm cả lĩnh vực phát triển kinh tế. Bài học hàng đầu của Đại hội VI của Đảng - Đại hội mở đầu sự nghiệp đổi mới là “ trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt “lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”. Dựa vào điều đó, chúng ta đã gặt hái được nhiều thành công trên tất cả các mặt trận chính trị, kinh tế, xã hội... Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, đất nước đang đứng trước những thách thức mới, đòi hỏi phải có sự tiếp tục đổi mới toàn diện trên “mặt trận kinh tế”. Để đảm bảo sự thành công, cần phải nhìn lại vai trò và trách nhiệm của các lực lượng: người dân, doanh nghiệp, “bộ máy chỉ huy” mới được nhân dân tín nhiệm bầu chọn, đội ngũ doanh nhân - “đội quân xung kích trên mặt trận kinh tế”... Đồng thời, cũng cần phải hoạch định rõ những phương thức “tác chiến” mới phát triển kinh tế. Đó là những nội dung cơ bản mà DĐDN số đặc biệt kỷ niệm 66 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9 trân trọng gửi đến bạn đọc. 
 
Ban Biên tập
 
PGS TS Bùi Đình Phong
search