Thứ Bảy, 14/05/2011 - 17:07

Hợp tác công – tư: Những yếu tố thu hút khu vực tư nhân

DN tư nhân góp vốn và chấp nhận chia sẻ lợi ích cũng như rủi ro với Nhà nước trong các dự án đang là xu hướng hợp tác tại nhiều quốc gia hiện nay. Ở Việt Nam, hợp tác công – tư (PPP) đang được nhắc đến như là một cách thức mới và hiệu quả giúp giải quyết vấn đề về vốn trong bối cảnh lạm phát tăng, chính sách tiền tệ tài khoá bị thắt chặt…

Bà Thái Thanh Hải - Phó Tổng Giám đốc phụ trách Kinh doanh và Quản trị rủi ro Doanh nghiệp - Deloitte Việt Nam phát biểu tại Toạ đàm 'Giải pháp vốn cho DN' do VCCI tổ chức vào ngày 10/5

Để có cái nhìn rõ hơn về hình thức hợp tác này, Diễn đàn Doanh nghiệp đã có cuộc trò chuyện với bà Thái Thanh Hải - Phó Tổng Giám đốc phụ trách dịch vụ Tư vấn Kinh doanh và Quản trị rủi ro Doanh nghiệp - Deloitte Việt Nam

- Mô hình hợp tác Nhà nước – Doanh nghiệp (DN) hay còn gọi là quan hệ đối tác công tư (PPP - Public Private Partnerships) đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng, song lại rất mới đối với Việt Nam. Bà có thể cho biết rõ hơn về hình thức hợp tác này?

Có thể hiểu một cách tương đối hợp tác công – tư là sự hợp tác giữa khu vực công và khu vực tư nhân được xây dựng trên cơ sở thế mạnh, khả năng chuyên môn của từng đối tác và sự phân bổ hợp lý nguồn lực, rủi ro và lợi ích từ đó đem lại giá trị cho đồng tiền (Value for Money).

Tại Việt Nam, khái niệm hợp tác công – tư thường gắn với mô hình BOT, BT, BTO và gắn mối quan ngại chính là vấn đề vốn. Trên thực tế có nhiều hình thức hợp tác công – tư với nhiều cấp độ khác nhau về chia sẻ trách nhiệm và rủi ro từ hợp đồng dịch vụ, hợp đồng quản lý, hợp đồng cho thuê, nhượng quyền, hợp đồng xây dựng – vận hành – chuyển giao (BOT), hợp đồng , xây dựng – sở hữu – vận hành (BOO)…

Vai trò của khu vực tư nhân trong hợp tác công – tư không chỉ là vấn đề cung cấp vốn. Sự đóng góp không kém phần quan trọng của khu vực tư nhân thuộc về các sáng kiến để giải quyết các vấn đề của dự án cũng như thế mạnh về công nghệ, kỹ thuật và khả năng quản lý, vận hành dự án để đạt được mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng chất lượng dịch vụ. Trong khi đó vai trò của Chính phủ đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng một khung pháp lý minh bạch, rõ ràng và công bằng, bên cạnh đó việc đảm bảo một tiến trình phù hợp thể hiện cam kết lâu dài đối với hợp tác công – tư cũng làm tăng thêm tính hấp dẫn đối với khu vực tư nhân.

Về  mặt tài chính, cơ cấu của một dự án đầu tư theo hình thức hợp tác công – tư thường là: vốn nhà nước chiếm 30%, vốn của khu vực tư chiếm 70% trong đó khoảng 21% thuộc vốn chủ sở hữu và 49% còn lại thuộc vốn vay. Với tính chất của các dự án đầu tư theo hình thức công – tư yêu cầu đối với các khoản vay là các khoản vay lớn và lâu dài cung cấp bởi các NHTM hoặc thông qua phát hành trái phiếu. Đối với một số dự án có thể được phân bổ các nguồn vốn tín dụng có ưu đãi và nguồn vốn vay có bảo lãnh của Chính phủ.

- Hiện nay DN tư nhân vẫn còn ngại khi tham gia vào các dự án hợp tác công – tư. Vậy theo bà, đâu là những yếu tố thu hút DN khi tham gia vào các dự án hợp tác này?

Theo tôi, những yếu tố thu hút khu vực tư nhân khi tham gia hợp tác công - gồm: Thứ nhất, tính dài hạn trong đầu tư. Các dự án này thường mang lại cho NĐT khoản lợi nhuận ổn định trong dài hạn. Thứ hai, khi tham gia vào hợp tác công - tư thì thường là các dự án có mức rủi ro thấp do Nhà nước cung cấp các cam kết thể chế cho dự án, bảo lãnh và xúc tiến khả thi cho dự án.

Ngoài ra với các dự án lớn thì không thể một mình DN tham gia xoay sở nếu không có hỗ trợ, hợp tác cùng khu vực công. Để thu hút đầu tư tư nhân thông qua hình thức hợp tác công – tư, Chính phủ cũng sử dụng các biện pháp ưu đãi và bảo đảm đầu tư thông qua ưu đãi thuế, quyền mua ngoại tệ hoặc bảo đảm cân đối ngoại tệ, quyền bảo đảm cung cấp các dịch vụ công cộng…

Đó là những điểm chính thu hút DN tham gia vào quá trình hợp tác công tư.

- Bà đánh giá như thế nào về vai trò của Nhà nước trong việc thiết lập và giám sát rủi ro của hợp tác công - tư?

Ở đây, vai trò của Nhà nước quan trọng. Chúng ta không thể nói rằng, hợp tác công - tư sẽ làm giảm vai trò của Chính phủ. Vai trò của Nhà nước về mặt quản lý là xây dựng hợp tác về khung pháp lý sao cho đầy đủ, rõ ràng, minh bạch. Ngoài ra vai trò của Nhà nước cũng rất quan trọng đối với từng dự án, vì họ phải thiết kế dự án sao cho khả thi, đánh giá tính khả thi sao cho hợp lý nhất. Sau đó, đề xuất xây dựng cơ cấu vốn như thế nào cho hợp lý, tiếp thị hay đấu thầu hay lựa chọn nhà đầu tư cũng là khâu quan trọng đảm bảo cho sự thành công của dự án.

Trong suốt quá trình triển khai thực hiện dự án thì vai trò giám sát của Nhà nước, của các cơ quan Chính phủ, cơ quan thực hiện rất quan trọng để đảm bảo dự án đi đúng hướng cũng như giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện một cách kịp thời. Cuối cùng là giai đoạn chuyển giao thì vai trò của Nhà nước cũng rất quan trọng đảm bảo lợi ích cuối cùng sẽ đảm bảo với  người sử dụng và cả Nhà nước và hợp lý với DN tư nhân.

- Những quan ngại của các DN khi tham gia đầu tư theo hình thức hợp tác công – tư trước hết liên quan đến tính đầy đủ, rõ ràng và minh bạch của cơ chế thu hút và thực hiện các dự án, khả năng tiếp cận thông tin và khả năng tiếp cận tín dụng? Bà đánh giá như thế nào về vấn đề này?

Quan ngại đó là rất đúng. Ở Việt Nam, hình thức này mới đang ở giai đoạn sơ khởi để chính thức gọi tên là loại đầu tư hợp tác công tư. Tất nhiên, chúng ta cần thêm thời gian để Chính phủ hoàn thiện về khung pháp lý, tính minh bạch hơn. Việc đưa ra Nghi định 71 là bước đi rất đúng, kịp thời và quan trọng của Chính phủ để chính thức thừa nhận và đưa vào áp dụng thí điểm hợp tác công - tư.

Khi tham gia dự án hợp tác này, vai trò của các đối tác cũng cần được xác định rõ ràng và thống nhất trước khi bắt đầu hợp tác, việc phân bổ và chia sẻ rủi ro cho các đối tác cũng là một vấn đề cần quan tâm rút kinh nghiệm từ một số dự án BOT chậm trễ trong triển khai thậm chí không thể triển khai được bởi các bất đồng phát sinh do hợp đồng thiếu chặt chẽ. Một vấn đề nữa khiến DN và các nhà cung cấp tín dụng e dè khi quyết định tham gia vào các dự án là “tính kinh tế” của dự án. Một dự án có hiệu quả tài chính thấp hoặc nhiều rủi ro, trở ngại trong quá trình thực hiện sẽ không thể thu hút các NĐT cũng như các nhà cung cấp tín dụng.

- Bà nhận định thế nào về xu hướng của hình thức hợp tác công – tư trong thời gian tới?

Theo tôi, hợp tác công – tư là một xu thế tất yếu để thu hút vốn của các NĐT nhằm lấp đầy khoảng cách đầu tư cũng như tranh thủ năng lực về quản lý, kỹ thuật, công nghệ của khu vực tư nhân để nâng cao hiệu quả đầu tư và cải thiện chất lượng dịch vụ công. 

Xin cảm ơn bà!

N.Phương
search