Thứ Tư, 10/09/2003 - 15:10

Một số vấn đề về hoá đơn, chứng từ

Trong thời gian qua, để thực hiện các Luật thuế mới đòi hỏi Nhà nước phải thực hiện đồng thời các biện pháp quản lý đồng bộ. Cùng với công tác quản lý thuế, công tác in, phát hành, quản lý sử dụng hoá đơn chứng từ cũng là một trong những cơ sở quan trọng góp phần vào sự thành công của các Luật thuế mới. Nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý và cải tiến chính sách thuế cho phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế, ngày 7/2/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 89/2002/NĐ-CP quy định việc in, phát hành, quản lý sử dụng hoá đơn. Đây là một văn bản quan trọng, có tính pháp lý cao hơn các văn bản trước đó về hoá đơn. Hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/2002/NĐ-CP nêu trên, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 120/2002/TT-BTC. Sau một thời gian triển khai thực hiện các văn bản về hoá đơn nêu trên, Bộ Tài chính cũng nhận được nhiều kiến nghị của doanh nghiệp liên quan đến quá trình triển khai văn bản này. Các kiến nghị chủ yếu tập trung vào các vấn đề: về thủ tục mua hoá đơn; về các loại hoá đơn thu mua; về công tác xác minh hoá đơn, về chế độ báo cáo sử dụng hoá đơn Để tạo thuận lợi cho quá trình thảo luận về các vấn đề liên quan đến hoá đơn, từ góc độ chính sách, chúng tôi xin đưa ra một số gợi ý để Hội thảo cùng thảo luận:

1. Hoá đơn là gì? Tại sao Nhà nước phải quản lý hoá đơn?

Theo quy định tại Điều 3, Nghị định 89: “Hoá đơn là chứng từ được in sẵn thành mẫu, in từ máy tính tiền, in thành vé có mệnh giá theo quy định của Nhà nước, xác nhận khối lượng, giá trị của hàng hoá, dịch vụ mua, bán, trao đổi, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ”.

Quy định trên cũng có nghĩa: hoá đơn là chứng từ xác nhận quan hệ mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ , thanh toán, quyết toán tài chính, xác định chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật. Đồng thời, trong việc thực hiện Luật thuế giá trị gia tăng và các Luật thuế mới thì hoá đơn lại có ý nghĩa quan trọng trong việc kê khai thuế, khấu trừ thuế, hoàn thuế, đảm bảo tính chính xác và chống thất thoát tiền Ngân sách Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tốt chế độ kế toán thống kê, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh.

Vì hoá đơn là chứng từ ghi nhận hoạt động kinh doanh nên hoá đơn cũng có nghĩa là tiền, thậm chí quan trọng hơn tiền bởi vì, hoá đơn tài chính nếu vượt ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước thì còn nguy hiểm hơn cả việc làm tiền giả rất nhiều. Người ta có thể tùy tiện nâng giá trị công trình xây dựng bằng cách đưa các hoá đơn tài chính không phản ánh đúng thực tế để hợp thức hoá gian lận. Đối với doanh nghiệp, hoá đơn cũng là bằng chứng chủ yếu cho một nghiệp vụ kinh doanh và có tính chất quyết định đến nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp. Vì vậy, Nhà nước phải quản lý hoá đơn. Việc quản lý hoá đơn có ý nghĩa rất to lớn không chỉ đối với Nhà nước mà cả đối với bản thân doanh nghiệp. Việc quản lý hoá đơn không tốt có thể dẫn đến việc phản ánh sai lệch kết quả sản xuất kinh doanh, nghĩa vụ đối với Nhà nước của doanh nghiệp; Các đối tượng xấu có thể lợi dụng các kẽ hở trong quy định về hoá đơn để gian lận, rút tiền của NSNN; quản lý hoá đơn không tốt sẽ tạo ra sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp, ảnh hưởng xấu đến môi trường sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với Nhà nước, việc quản lý hoá đơn không tốt sẽ dẫn đến các thông tin về doanh nghiệp bị sai lệch, ảnh hưởng đến việc hoạch định các chính sách vĩ mô của Nhà nước. Vấn đề là phải quản lý hoá đơn như thế nào? Thực tế thi hành các Luật thuế, sơ hở trong công tác quản lý hoá đơn để lập các hồ sơ gian lận, mua bán gian lận hoá đơn, bòn rút tiền Nhà nước. Vấn đề hoá đơn đã trở thành vấn nạn của nền kinh tế.

2. Mục tiêu của việc quản lý hoá đơn:

Mục tiêu chủ yếu của việc quản lý hoá đơn nhằm:

  • Thứ nhất, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tự quản lý tốt hoạt động sản xuất, kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật. Thông qua hoá đơn, doanh nghiệp dễ dàng hạch toán được các luồng hàng hoá, dịch vụ cũng như sự vận động của các luồng tiền, vốn trong kinh doanh, xác định đúng kết quả kinh doanh, lãi, lỗ của doanh nghiệp; thực hiện tốt các quy định của Luật thuế và làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước.
  • Thứ hai, tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh và trong việc thi hành các Luật thuế. Sự minh bạch trong các quy định về hoá đơn đảm bảo sự nhất quán trong quá trình thực hiện văn bản, từ đó, tạo ra sự bình đẳng trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, trong quá trình thực thi các luật thuế.
  • Thứ ba, góp phần thực hiện thắnglợi các luật thuế. Hoá đơn là căn cứ để các doanh nghiệp kê khai thuế, khấu trừ thuế, là căn cứ để hoàn thuế GTGT, là căn cứ để hạch toán vào chi phí hợp lý khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp, là căn cứ để thực hiện quyết toán thuế, vì vậy, công tác quản lý hoá đơn chính là cơ sở cho sự thành công của các Luật thuế.

3. Làm thế nào để quản lý hoá đơn?

Để thực hiện được các mục tiêu trong quản lý hoá đơn như nêu trên, đòi hỏi phải quy định các thủ tục về quản lý hoá đơn. Các quy định về hoá đơn và thủ tục quản lý hoá đơn đã được thể chế hoá tại Nghị định 89/2002/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 120/2002/TT-BTC của Bộ Tài chính, theo đó quy định rõ:

  • Đối tượng và phạm vi áp dụng;
  • Loại, hình thức và nội dung của hoá đơn.
  • Những quy định cụ thể về in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn như trách nhiệm của tổ chức, cá nhân nhận in hoá đơn, tổ chức, cá nhân được phép tựin hoá đơn; quy định về phát hành hoá đơn; về thủ tục mua hoá đơn, về đăng ký sử dụng hoá đơn tự in; về sử dụng hoá đơn; và về quảnlý hoá đơn.
  • Quy định về xử phạt vi phạm hành chính về hoá đơn.

(Các nội dung này đã được quy định cụ thể tại 2 văn bản nêu trên, xin phép không nhắc lại).

Việc thực hiện các quy định về hoá đơn không chỉ là nhiệm vụ của doanh nghiệp mà đòi hỏi các ngành, các cấp phải đặc biệt quan tâm.

4. Vướng mắc gì trong quản lý hoá đơn?

Sau một thời gian triển khai thực hiện, các văn bản về hoá đơn nêu trên đã đáp ứng được yêu cầu thực tế phục vụ sản xuất kinh doanh, mua bán hàng hoá, dịch vụ của mọi thành phần kinh tế. Việc sử dụng hoá đơn trong quan hệ mua bán, trao đổi hàng hoá và làm chứng từ thanh, quyết toán tài chính của các tổ chức, cá nhân kinh doanh theo quy định của pháp luật ngày càng đi vào nề nếp.

Tuy nhiên, cũng trong quá trình thực thi các văn bản quy định về hoá đơn cụ thể là Nghị định 89 của Chính phủ và Thông tư 120/2002/TT-BTC của Bộ Tài chính nêu trên, gần đây chúng tôi cũng nhận được nhiều kiến nghị của doanh nghiệp liên quan đến các vướng mắc về hoá đơn, chủ yếu xoay quanh các nhóm vấn đề sau:

  • Về thủ tục mua hoá đơn, nhiều doanh nghiệp cho rằng việc quy định thủ tục mua hoá đơn lần đầu và các lần tiếp sau đều phải xuất trình Chứng minh nhân dân (còn trong thời hạn sử dụng theoquy định của pháp luật) của người trực tiếp mua hoá đơn, trong khi đó trên Giấy chứng minh nhân dân không có chỗ nào ghi thời hạn sử dụng là chưa thực tế. Mặt khác, quy định số lượng bán hoá đơn lần đầu cho tổ chức, cá nhân không quá 2 quyển, không phân biệt loại hình quy mô doanh nghiệp là chưa thoả đáng. Đối với thủ tục mua hoá đơn các lần tiếp sau “phải kèm theo bảng kê hoá đơn hàng hoá, dịch vụ bán ra theo mẫu số 02/GTGT có xác nhận đã kê khai thuế của cơ quan thuế quản lý; tổ chức, cá nhân tự kê khai số lượng hoá đơn đã sử dụng; cơ quan thuế xác định số lượng hoá đơn bán lần tiếp sau cho phù hợp” (quy định tại tiết d, khoản 2.1, điểm 1, Mục V, Phần 3 Thông tư 120/2002/TT-BTC), nhiều doanh nghiệp cho rằng quy định này chưa hợp lý, bởi vì, trong trường hợp có quá nhiều bảng kê, cơ quan thuế chỉ xác định được vào tờ cuối của bảng kê rồi chuyển sang bộ phận quản lý ấn chỉ, không xác định được số hoá đơn đã sử dụng hoặc chưa sử dụng để bán hoá đơn lần tiếp theo. Và doanh nghiệp cho rằng việc lưu bản kê số 02/GTGT không có tác dụng gì cho công tác quản lý ấn chỉ.
  • Về các loại hoá đơn thu mua, một số doanh nghiệp cho rằng việc chỉ quy định loại hoá đơn thu mua hàng nông, lâm, thủy sản mà không quy định loại hoá đơn thu mua đất, đá, cát sỏi trong xây dựng cơ bản là một sơ hở trong quản lý. Bởi vì Nhà nước ta đang ưu tiên tập trung đầu tư XDCB hạ tầng, hàng năm tiền thu mua đất, đá, cát sỏi trị giá tới hàng nghìn tỷ đồng mà lại cho áp dụng bảng kê mẫu số 04/GTGT là một kẽ hở lớn, nhiều tổ chức, cá nhân có thể lợi dụng để trục lợi. Mặt khác, cũng nhiều doanh nghiệp cho rằng quy định dối với trường hợp thu mua hàng cógiá trị từ 1 triệu đồng trở lên hoặc mua nhiều lần của một người thì phải căn cứ vào Chứng minh nhân dân (CMND) của người bán để ghi đúng họ, tên, địa chỉ của người bán, là chưa thực tế và gây trở ngại cho doanh nghiệp, bởi lẽ, trong thực tế quy định này rất khó thực hiện: ngoài việc địa chỉ ghi trong CMND và địa chỉ thường trú trong thực tế có nhiều trường hợp không trùng khơp; ở nhiều địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng ngư dân ven biển, có địa phương chỉ có 20% - 30% người dân là có Giấy CMND, số còn lại là không có CMND. Do vậy, khi hoá đơn thu mua không thoả mãn được các quy định nêu trên thì không được coi là chứng từ hợp lệ để tính vào chi phí khi tính thuế TNDN.
  • Về công tác xác minh hoá đơn: Theo quy định, việc xác minh hoá đơn ngoài việc căn cứ vào công văn đề nghị xác minh hoá đơn, bảng kê các số hoá đơn cần xác minh còn phải kèm theo bản sao hoá đơn dẫn đến thực tế thực hiện gặp nhiều khó khăn, nhất là trong các trường hợp số lượng hoá đơn phát sinh quá lớn.
  • Về chế độ báo cáo sử dụng hoá đơn: Các doanh nghiệp đều cho rằng chế độ báo cáo sử dụng hoá đơn hàng tháng sẽ gây trở ngại lớn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và tăng thêm khối lượng công việc cho cơ quan thuế.
  • Về một số vấn đề khác: Ngoài ra, một số kiến nghị còn đề cập đến những vướng mắc trong quá trình thực hiện văn bản liên quan đến việc sử dụng hoá đơn bán lẻ, cả với đối tượng sử dụng và với các cơ quan thuế địa phương.

Trên đây là đơn cử một vài kiến nghị của doanh nghiệp về hoá đơn. Về các kiến nghị này, theo chúng tôi, có những kiến nghị là hợp lý, ví dụ như về các thủ tục mua hoá đơn, về bổ sung loại hoá đơn thu mua đất, đá cát sỏi trong XDCB , có những kiến nghị cần được xem xét thêm. Hy vọng rằng qua buổi hội thảo hôm nay, chúng tôi tiếp tục nhận được những đóng góp của doanh nghiệp. Về phía cơ quan xây dựng chính sách, chúng tôi rất hoan nghênh và ghi nhận những đóng góp của doanh nghiệp trong việc phản ánh những vướng mắc và kiến nghị trong quá trình thực hiện các quy định về hoá đơn. Thực tế, các quy định về thủ tục khắt khe dối với hoá đơn như nêu trên là nhằm khắc phục những hành vi lừa đảo mua bán hoá đơn lòng vòng như đã diễn ra trong thời gian qua. Tuy nhiên, những đề xuất hợp lý của doanh nghiệp, chúng tôi xin ghi nhận để nghiên cứu, cải tiến thủ tục cho hợp lý hơn.

Hy vọng rằng qua hội thảo này và các thông tin từ hội thảo sẽ là yếu tố cơ bản để chúng tôi có căn cứ trình các cấp có thẩm quyền điều chỉnh chính sách cho hợp lý sao cho đạt được các mục tiêu trong quản lý hoá đơn, tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp trong quá trình quản lý kinh doanh.

Thạc sỹ Dương Thị Ninh - Vụ Chính sách Thuế, Bộ Tài chính

search