Thứ Tư, 24/09/2003 - 15:06

Một số vấn đề về Quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế (trong nước) sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) tháng 7/2003, vấn đề quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế trong nước sử dụng đất đã được qui định tập trung tại một số điều chung đối với người sử dụng đất (điều 110, 111, 112), và một số điều riêng đối với tổ chức kinh tế (điều 114, 115, 116).

Qui định tại các điều này theo tôi là đúng nhưng chưa đủ. Tôi xin phép không phân tích thêm về mặt đúng để dành thời gian đề cập tới mặt chưa đủ trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) xung quanh vấn đề về quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế (trong nước) sử dụng đất.

1. Trong Luật Đất đai, thuật ngữ “tổ chức kinh tế” được dùng để phân biệt với thuật ngữ “cơ quan nhà nước”, “tổ chức chính trị”, “tổ chức chính trị - xã hội”, “tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp”, “tổ chức xã hội”, “tổ chức xã hội -nghề nghiệp”, “đơn vị sự nghiệp công”, “đơn vị của lực lượng vũ trang”, “hộ gia đình”, “cá nhân”, “cộng đồng dân cư” trong nước.

Theo sự phân biệt đó, tổ chức kinh tế trong nước hiện có của cả nước bao gồm hơn 5 nghìn doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước, hơn 15 nghìn hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã, hơn 100 nghìn doanh nghiệp, công ty được thành lập theo Luật doanh nghiệp, hơn 2,5 triệu hộ cá thể, tiểu chủ kinh doanh trong các ngành nghề phi nông nghiệp. Kể ra như vậy, tôi muốn nhấn mạnh rằng các tổ chức kinh tế (trong thuật ngữ được sử dụng trong Luật Đất đai) đang là lực lượng chủ công của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN của nước ta. Các tổ chức kinh tế này tuy một số đã được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất (đặc biệt là đối với doanh nghiệp nhà nước), nhưng còn một bộ phận không nhỏ cho tới nay vẫn chưa được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất. Những tổ chức này buộc phải sử dụng đất ở, nhà ở để làm diện tích sản xuất, kinh doanh. Các tổ chức kinh tế này đang thực sự có những nhu cầu khá đa dạng về đất để làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh. Vậy họ có những quyền gì về việc được Nhà nước giao đất, cho thuê đất?

2. Trong Hiến pháp 1992, điều 57 có ghi “công dân có quyền tự do kinh doanh theo qui định của pháp luật”. Các tổ chức kinh tế đã kỳ vọng rất nhiều vào điều này. Luật doanh nghiệp đã có một số qui định cụ thể về quyền tự do kinh doanh. Tuy vậy, nếu không có đất để làm mặt bằng xây dựng các công trình phục vụ kinh doanh thì các doanh nghiệp dù có được quyền tự do kinh doanh cũng đành bó tay. Rất nhiều chủ đầu tư đã phải nản lòng hoặc huỷ bỏ quyết định đầu tư do những khó khăn, trở ngại trong việc có đất để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho việc kinh doanh của mình. Thực tế này đòi hỏi phải có sự sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai hiện hành trong qui định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế (trong nước).

3. Trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), vấn đề “quyền của Nhà nước đối với đất đai và quản lý nhà nước về đất đai” đã được biên tập khá đầy đủ và chi tiết với 66 điều (Luật hiện hành chỉ có 32 điều). Trong khi đó, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (trong nước) chỉ có 12 điều về sử dụng đất công với 14 điều về trình tự, thủ tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất. Riêng quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế chỉ được qui định trong 4 điều (điều 113, 114, 115 và 116). Theo tôi, dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) cần được điều chỉnh để không chỉ nhấn mạnh về quyền của Nhà nước đối với đất đai mà còn cần qui định đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế trong việc được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, sau đó mới là quyền và nghĩa vụ của họ về sử dụng đất.

4. Luật Đất đai năm 1987, 1993 (được sửa đổi năm 1998, năm 2001 và đang chuẩn bị sửa đổi tiếp hiện nay) đã rất chú trọng tới việc giao đất, cho thuê đất đối với hộ gia đình và tổ chức kinh tế là doanh nghiệp nhà nước. Hai loại đối tượng này hiện đang được sử dụng phần lớn các loại đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất ở nông thôn, đất ở đô thị, đất chuyên dùng. Nhìn trên tổng thể, với trên 33 triệu ha đất tự nhiên của toàn quốc, nếu loại trừ đất chưa sử dụng (sông, suối, núi đá ) ra thì chỉ còn trên 1,7 triệu ha đất lâm nghiệp hiện Nhà nước chưa giao hoặc cho thuê, tất cả các diện tích đất khác đều đã có chủ sử dụng. Vậy những doanh nghiệp hiện đang phải sử dụng đất ở, nhà ở để triển khai các hoạt động kinh doanh và những doanh nghiệp sẽ ra đời và hoạt động trong thời gian tới sẽ được đáp ứng nhu cầu về đất làm mặt bằng kinh doanh của mình như thế nào?

Trên thực tế những năm qua cho thấy nhu cầu về đất làm mặt bằng kinh doanh của nhiều loại hình doanh nghiệp (đặc biệt là doanh nghiệp hoạt động theo Luật hợp tác xã, Luật doanh nghiệp) đã bị thả nổi. Trong giải quyết quan hệ cung- cầu về đất làm mặt bằng kinh doanh của các doanh nghiệp thì thành tựu đáng kể trong những năm qua là sự hình thành và phát triển của gần 70 khu công nghiệp, khu chế xuất. Tuy nhiên, thành tựu này lại chủ yếu dành cho các doanh nghiệp công nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp công nghiệp do nước ngoài đầu tư theo các hình thức được qui định tại Luật đầu tư nước ngoài. Gần đây, một số tỉnh, thành phố đã thành lập một số khu công nghiệp nhỏ, khu công nghiệp làng nghề nhưng không thấm tháp gì so với gần 1.500 làng nghề hiện có trong cả nước. Nếu mỗi doanh nghiệp được thành lập theo Luật hợp tác xã và Luật doanh nghiệp được Nhà nước giải quyết (giao đất hoặc cho thuê đất) chỉ với 300(500m2 đất để làm mặt bằng kinh doanh thì từ nay đến năm 2010 tổng cầu về mặt này sẽ lên tới 20 nghìn ha đất, tương đương với tổng diện tích đất tại tất cả các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện có (kể cả khu công nghiệp Dung Quất). Vậy bằng phương thức nào để có được 20 nghìn ha đất này trong khi hầu hết diện tích đất có thể sử dụng được đều đã được Nhà nước giao hoặc cho thuê tính đến thời điểm hiện tại ? Theo tôi, đây là một đại sự, phải được nhìn nhận và giải quyết trong dịp sửa đổi Luật Đất đai lần này, không để thả nổi như những năm vừa qua.

5. Vấn đề đặt ra trên đây của thực tiễn đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung vào nhiều chương, mục, điều, khoản của Luật Đất đai hiện hành. Ngoài những nội dung đã được hoạch định trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), tôi đề nghị xem xét, cân nhắc để có thể bổ sung tiếp một số nội dung sau đây xung quanh quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế (trong nước) đối với việc được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất và sử dụng diện tích đất đó. Cụ thể là:

* Phù hợp với điều 57 của Hiến pháp về quyền tự do kinh doanh của công dân theo qui định của pháp luật, Luật Đất đai cần có qui định về việc: các doanh nghiệp được thành lập theo luật (Luật hợp tác xã, Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp nhà nước) đều được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất để làm mặt bằng sản xuất kinh doanh.

Trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất thực hiện như điều 35 Luật Đất đai (dự thảo sửa đổi).

* Để có đất giao hoặc cho thuê đối với các doanh nghiệp được thành lập theo luật (Luật hợp tác xã, Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp nhà nước), trong bối cảnh hiện nay khi phần lớn diện tích có thể sử dụng được đều đã có chủ sử dụng thì Nhà nước phải tiến hành việc thu hồi đất. Về vấn đề này, Luật Đất đai hiện hành và dự thảo sửa đổi luật này mới chỉ chú trọng tới việc thu hồi đất trong trường hợp người sử dụng đất có vi phạm pháp luật, hoặc trong trường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Tôi đề nghị việc sửa đổi Luật Đất đai lần này phải chú trọng tới cả trường hợp thu hồi đất của người sử dụng đất không vi phạm pháp luật và đất thu hồi này lại là để sử dụng vào việc làm mặt bằng kinh doanh của các tổ chức kinh tế.

Như đã phân tích ở phần trên, từ nay đến năm 2010, để có đất cho các tổ chức kinh tế được thành lập theo Luật hợp tác xã và Luật doanh nghiệp thì Nhà nước phải thu hồi khoảng 20 nghìn ha, trong đó chủ yếu sẽ là đất nông nghiệp từ các chủ sử dụng đất đã có “sổ đỏ” (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Việc thu hồi này không thể áp dụng theo các qui định như đối với trường hợp người sử dụng đất có vi phạm pháp luật hoặc nhưtrường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích công cộng các biện pháp có tính chất hành chính trong qui hoạch, kế hoạch, đền bù, giải toả, cưỡng chế sẽ không phát huy được nhiều tác dụng tích cực trong trường hợp này. Theo tôi để có thể thu hồi khoảng 20 nghìn ha đất từ các chủ sử dụng đất có “sổ đỏ” để làm mặt bằng kinh doanh cho các tổ chức kinh tế thì lợi ích thu được từ việc thu hồi và chuyển đổi mục đích sử dụng số diện tích đất đó cần được phân bổ hải hoà cho 3 bên: Nhà nước, người bị thu hồi đất, và doanh nghiệp được sử dụng đất để kinh doanh. Quá nhấn mạnh đến lợi ích của một bên trong quan hệ phân phối này đều không thoả đáng và quan trọng hơn là sẽ dẫn đến việc ắch tắc “giải phóng mặt bằng” như đã xảy ra phổ biến trên địa bàn cả nước trong những năm qua, đặc biệt là tại các vùng có tốc độ phát triển kinh tế cao. Nếu một mét vuông đất nông nghiệp hạng 1 tại vùng đồng bằng có giá là 19.300đ (giá được Nhà nước qui định năm 1994 tại Nghị định 87/CP), khi đem đấu giá thu được 12 triệu đồng thì phần chênh lệch (12.000.000đ - 19.300đ = 11.980.700đ) cần được phân phối hài hoà cho người bị thu hồi đất, cho Nhà nước và cho doanh nghiệp được sử dụng đất để kinh doanh. Sự hài hoà ở đây không có nghĩa là chia đều, nhưng cũng không thể quá chênh lệch nhau. Sự hài hoà lợi ích này bảo đảm quan hệ bền vững giữa “3 nhà” trong thị trường quyền sử dụng đất của nước ta, và kết quả của sự hài hoà này là người bị thu hồi đất không thấy bị thua thiệt, doanh nghiệp được sử dụng đất để kinh doanh không phải trả giá quá cao, Nhà nước không bị thất thu trong việc thu hồi đất và chuyển đổi mục đích sử dụng đất này.

6. Tóm lại, dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã rất chú trọng tới việc sửa đổi, bổ sung các vấn đề về quyền của Nhà nước đối với đất đai và quản lý Nhà nước về đất đai. Cũng với sự chủ trọng đó, tôi đề nghị biên tập thêm vào dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) các nội dung về quyền và nghĩa vụ của tổ chức (trong đó có các tổ chức kinh tế), hộ gia đình, cá nhân (trong nước) trong việc được giao đất hoặc thuê đất của Nhà nước. Nếu nội dung này được qui định công bằng và minh bạch trong Luật Đất đai thì đó sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết tình trạng “người ăn chẳng hết, người lần chẳng ra” trong phân phối và sử dụng có hiệu quả cao quĩ đất ngày càng trở nên khan hiếm hơn của quốc gia.

TS. Đinh Đức Sinh

search