Thứ Năm, 09/02/2006 - 13:17

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2006 – 2010:

Vai trò của Doanh nghiệp

(Phát biểu của Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Vũ Tiến Lộc tại Hội nghị Thủ tướng gặp doanh nghiệp (Hà Nội, 09/2 /2006)

Kính thưa Thủ tướng Phan Văn Khải
Kính thưa Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng
Thưa các đồng chí

Cuộc gặp mặt của Thủ tướng với doanh nghiệp hôm nay là cuộc gặp được trông đợi nhiều nhất vì nó diễn ra tại một thời điểm có ý nghĩa trọng đại: thời điểm chuyển giao giữa hai kỳ Đại hội Đảng và là giao điểm của hai kỳ chiến lược. Tại cuộc gặp này, chúng ta có cơ hội nhìn lại đầy đủ quãng đường không chỉ 1 năm mà cả 5 năm sát cánh vì phát triển của Chính phủ và Doanh nghiệp, để hướng tới một chặng đường mới, mang tính vận hội của dân tộc, cùng cam kết hành động đưa nền kinh tế và đất nước ta lên một tầm cao phát triển mới.

Nhân dịp đầu xuân, thay mặt cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, tôi xin kính chúc Thủ tướng và Chính phủ một năm mới thành công, mở thế hội nhập và phát triển mới vững vàng cho đất nước. Chúc các nhà doanh nghiệp và tất cả các đồng chí một năm Bính Tuất dồi dào sức khỏe, tràn đầy tự tin, một năm mới phát tài, phát lộc.

Kính thưa Thủ tướng
Thưa các đồng chí

Năm 2005, kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tích đáng tự hào. Đây là kết quả của sự nỗ lực phấn đấu to lớn của cả xã hội, trong đó, có phần đóng góp không nhỏ của sự “hợp đồng tác chiến” ngày càng chặt chẽ và hiệu quả giữa Chính phủ và giới doanh nghiệp. Thành tích đó cũng là kết quả của 5 năm Chính phủ nỗ lực, cùng với các doanh nghiệp, vực dậy đà tăng trưởng, đẩy mạnh cải cách và thúc đẩy quá trình hội nhập với tinh thần chủ động và tích cực hơn.

Trước hết, Phòng TM&CN Việt Nam vui mừng được báo cáo với Thủ tướng và toàn thể Hội nghị rằng trong năm qua, mặc dù bối cảnh trong nước và trên thế giói có nhiều biến động và cạnh tranh ngày càng gay gắt, song hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tăng đáng kể so với trước. Theo kết quả khảo sát – điều tra của Phòng TM&CN Việt Nam, gần 60% sdoanh nghiệp có mức doanh thu tăng, trong đó khoảng 70% có mức tăng trên 10%. Số liệu khảo sát 3 năm liên tiếp cho thấy cả ba nhóm doanh nghiệp nhỏ, trung bình và lớn kinh doanh có lãi đều tăng trưởng khá đồng đều. Tuy nhiên, tỷ suất lợi nhuận còn thấp. doanh nghiệpNhà nước có tỷ suất lợi nhuận trung bình 3,8%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh: 4,9% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 7,8%.

Nhiều doanh nghiệp cũng đã tích cực chủ động hơn trong hội nhập. Hiệp định thương mại Việt - Mỹ đã tác động rõ rệt tới hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam. Thị trường Hoa kỳ là nơi doanh nghiệp có mức tăng trưởng xuất khẩu mạnh nhất. Nhưng đáng tiếc là thị trường Trung quốc rộng lớn và nhiều tiềm năng lại chưa được khai thác thoả đáng trong khi nguy cơ “bỏ trống sân nhà” đang bộc lộ ngày càng rõ.

Đặc biệt, năm năm qua, khu vực doanh nghiệp có sự tăng tiến vượt bậc. Cộng đồng doanh nghiệp được bổ sung hàng chục nghìn thành viên mới; xu hướng và chất lượng kinh doanh của các doanh nghiệp được cải thiện đáng kể. Nhờ đó, cộng đồng doanh nghiệp từng bước khẳng định vai trò là đội quân chủ lực trong công cuộc phục hưng và phát triển kinh tế nước nhà. Bước tiến vượt bậc đó là kết quả của các nỗ lực đẩy mạnh đổi mới thể chế kinh tế theo hướng thị trường mở cửa và hội nhập. Trực tiếp, đó là kết quả của Luật Doanh nghiệp thực thi từ năm 2000 và của các hành động mở cửa - hội nhập theo tinh thần đột phá mà việc ký kết Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ năm 2001 là một ví dụ điển hình trong rất nhiều điểm sáng hội nhập và phát triển mà chúng ta đã tạo lập được.

Từ góc nhìn doanh nghiệp và xuất phát từ thực tiễn, chúng tôi nhận thấy rõ rằng trong quá trình chuyển đổi kinh tế và hội nhập, lúc nào, ở đâu mà Chính phủ mạnh dạn đột phá thể chế, tích cực mở cửa hội nhập thì lúc đó, ở đó, doanh nghiệp cảm nhận rõ sự tin tưởng của Đảng và Nhà nước dành cho cũng như trách nhiệm của mình trước đất nước, mạch nguồn phát triển được khai thông và kinh tế bừng lên. Đây là một bài học phát triển rất quí giá cần phát huy trong thời hội nhập và cạnh tranh toàn cầu hiện nay.

Kính thưa Thủ tướng
Thưa các đồng chí

Bên cạnh những thuận lợi, các doanh nghiệp Việt Nam hiện đang phải đối mặt với nhiều khó khăn. Hàng loạt vấn đề thuộc về môi trường kinh doanh đang có ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động của doanh nghiệp nhưsự bất cập của qui hoạch phát triển, yếu kém của thị trường đất đai và bất động sản, cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận vốn, thái độ hành xử chưa hết trách nhiệm của một bộ phận công chức – công quyền. Những vướng mắc thể chế này đã đan kết với nhau tạo thành những lực cản lớn hơn đối với sự phát triển. Điều này đã từng được đề cập tại Hội nghị Thủ tướng gặp doanh nghiệp năm 2004 và các năm trước nhưng cho đến nay, nhiều vấn đề vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng.

Sự chênh lệch giữa các địa phương về năng lực điều hành kinh tế, thể hiện rõ thông qua chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh về môi trường kinh doanh được VCCI-VNCI công bố gần đây cũng là vấn đề khá gay gắt. Cùng một hệ thống cơ chế chính sách, quy định pháp luật như nhau song chỉ có một số ít tỉnh, thành phố thực hiện tốt, tạo được môi trường thông thoáng cho hoạt động của các doanh nghiệp. Cho đến năm 2005, nghĩa là sau 20 năm chuyển sáng kinh tế thị trường, chúng ta vẫn phải chứng kiến một hệ thống thể chế thị trường còn thiết minh bạch, bị chia cắt, bị phân biệt đối xử ở cấp địa phương. Tình trạng này đang cản trở quá trình hình thành thống nhất của hệ thống thể chế thị trường, triệt tiêu nỗ lực cải thiện sức cạnh tranh của các doanh nghiệp. Dù Thủ tướng đã có những biện pháp quyết liệt, song cộng đồng doanh nghiệp vẫn kiến nghị Chính phủ mạnh tay và kiên quyết hơn nữa để giải quyết triệt để vấn đề.

Một vấn đề nổi cộm cần được quan tâm mạnh mẽ là cải cách doanh nghiệpNhà nước. Đã có một chương trình khá đồng bộ đẩy mạnh cổ phần hóa nhưng thực thi còn chậm. sau 13 năm, mới chỉ có 2600 doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa, chưa đạt được tiến độ và yêu cầu đề ra. Mặc dù hơn 90% số này hoạt động có hiệu quả, song chỉ thu hút được 15,5% vốn cổ đông bên ngoài. Số vốn Nhà nước đã được cổ phần hóa mới chỉ chiếm 9% tổng số vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp Nhà nước.

Sự chậm trễ như vậy có ảnh hưởng không nhỏ đến toàn bộ quá trình xây dựng đồng bộ các thể chế thị trường. Sự phân biệt đối xử vẫn tồn tại; tình trạng độc quyền doanh nghiệpNhà nước chưa được loại bỏ; một phần nguồn lực quốc gia vẫn tiếp tục đổ vào nuôi các doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh thấp.

Tất cả những khó khăn nêu trên đã được đề cập nhiều lần tại các cuộc tiếp xúc giữa doanh nghiệp với các cơ quan nhà nước và Chính phủ đã có những chương trình hành động để giải quyết. Nhưng tại Hội nghị này, chúng tôi vẫn muốn nhấn mạnh đến yêu cầu ngày càng gay gắt của việc gia tốc những nỗ lực giải quyết khó khăn trong bối cảnh hội nhập và đua tranh toàn cần hiện nay.

Tình trạng chất lượng tăng trưởng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế chậm được cải thiện đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội. Tăng trưởng kinh tế chưa phát huy được các yếu tố chiều sâu, chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước. Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, chưa đủ sức hỗ trợ cho các doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh. Năng lực sản xuất của một số ngành, một số sản phẩm quan trọng, thiết yếu tăng chậm. Ngoài ra, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa đồng đều và chưa phát huy được thế mạnh trong từng ngành, từng vùng, từng sản phẩm. Tỷ trọng công nghiệp gia công lắp ráp còn lớn; tốc độ đổi mới công nghệ còn chậm.

Trong bảng xếp hạng năng lực “cạnh tranh tăng trưởng toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới, trong mấy năm qua, Việt Nam liên tục bị tụt hạng. Tuy sự xếp hạng có thể có những điểm còn cần phải được trao đổi, song xét về xu hướng sự kiện nói trên đã đưa ra một cảnh báo mà với thái độ nghiêm túc, chúng ta không thể xem thường. Nó cho thấy trước thềm hội nhập WTO, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam đang còn nhiều vấn đề và tụt hậu xa hơn vẫn đang là thách thức hàng đầu đặt ra trước chúng ta.

Ở cấp độ cụ thể hơn, dễ nhận thấy rằng vấn đề phát triển sản phẩm mới, nâng cao chất lượng sản phẩm và đổi mới công nghệ giờ đây được coi là yêu cầu quan trọng bậc nhất. Năng lực tồn tại trong hệ thống phân công lao động quốc tế và thị trường thế giới trở thành vấn đề sinh tử hiện đại của nền kinh tế và các doanh nghiệp Việt nam. Chúng ta hiểu rất rõ ràng trình độ công nghệ và chẩt lượng nguồn nhân lực đang và sẽ là những thách thức căn bản dài hạn và gay gắt nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong việc nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh. Trong khi đó, hệ thống giáo dục và đào tạo vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho quá trình chuyển đổi này.

Nguồn cung cấp nguyên liệu và các yếu tố đầu vào cũng đang trở thành mối quan tâm đặc biệt của các doanh nghiệp. Mức độ phụ thuộc cao vào thị trường nguyên liệu, năng lượng và các yếu tố đầu vào quan trọng nhất như thương hiệu, công nghệ, kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm đã làm gim mạnh tính chủ động kinh doanh của doanh nghiệp và cho đến nay các ngành công nghiệp của Việt nam vẫn đang chủ yếu tập trung ở hạ nguồn- nơi giá trị gia tăng được tạo ra cho mỗi sản phẩm rất thấp.

Thực trạng nêu trên đòi hỏi cả Chính phủ và doanh nghiệp phải tiếp tục thay đổi cả tư duy lẫn phương pháp tiếp cận để giải quyết các vấn đề đặt ra trong chiến lược phát triển 2006-2010.

Kính thưa Thủ tướng,
Thưa các đồng chí

Kế hoạch phát triển KTXH 2006 -2010 sẽ diễn ra trong điều kiện nền kinh tế nước ta hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Điều đó đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới tư duy, đổi mới chính sách - thể chế đi đôi với việc hành động một cách quyết liệt và một trong những tư tưởng chính sách xuyên suốt trong kế hoạch là: phải (1) coi doanh nghiệp là đội quân chủ lực trong phát triển kinh tế và hội nhập,, (2) Xây dựng cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh chính là một thành tố quan trọng bậc nhất của chiến lược phát triển KTXH 5 năm 2006-2010 và (3) coi nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và hoạt động có hiệu quả, có trật tự, kỷ cương của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

Trong giai đoạn 2006-2010, việc xây dựng và phát triển doanh nghiệp cần được nhìn nhận trên cơ sở: Định vị chính xác nền kinh tế Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu để hướng tới những thay đổi mạnh mẽ, bằng việc xây dựng các chương trình phát triển doanh nghiệp trọng điểm với lộ trình cụ thể.

Thứ nhất, để định vị Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu, xin được nhấn mạnh đến vị thế của nền kinh tế và của các doanh nghiệp Việt Nam trong các “CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU”. Chúng ta đang tham gia thị trường toàn cầu, ở đó, nguồn lực của các quốc gia đang được phân chia lại theo những nguyên tắc mới. Không hiểu những nguyên tắc đó, không thể dự báo chính xác những ngành nào của Việt Nam có thể cạnh tranh và tồn tại; những ngành nào cần tập trung phát triển để pt huy lợi thế so sánh; và từ đó xác định những ưu tiên cũng như sự đánh đổi cần thiết. Ngay cả cách thức can thiệp của Chính phủ đối với từng lĩnh vực cũng cần có “Tư duy hiện đại” và “tầm nhìn toàn cầu” tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp tiếp cận được những nguồn lực cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh.

Một điểm nhấn khác đặc biệt có ý nghĩa đối với triển vọng phát triển của nền kinh tế nước ta là vị thế địa - chiến lược (bao gồm địa - kinh tế nhưng không chỉ địa - kinh tế). Nằm ở trung tâm điểm của một khu vực kinh tế năng động bậc nhất thế giới, có sức tăng trưởng cao và độ lan tỏa phát triển mạnh lại chính là vùng đất giao thoa lịch sử của hai cường quốc kinh tế đang trỗi dậy là Trung Quốc và Ấn Độ, Việt Nam đang đứng trước một cơ may hiếm có và một vận hội lịch sử lớn lao. Vấn đề đặt ra là phải làm gì và làm như thế nào để biến cái vị thế - lợi thế tự nhiên đó thành lợi thế phát triển hiện thực, giúp đất nước xuất phát muộn - đi sau của chúng ta nhanh chóng khẳng định vị trí xứng đáng của mình trong cuộc đua tranh phát triển toàn cầu.

Thứ hai, khi đã xác định được vị trí của Việt Nam, kế hoạch phát triển KT-XH cần hướng tới những thay đổi mạnh mẽ trong tư duy quản lý của Nhà nước và định hướng phát triển KT-XH. Đó là tư duy thị trường toàn cầu,, hội nhập và phát triển bền vững.

Trước hết phải tiếp tục xác định đúng chức năng kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường là bổ sung, thúc đẩy sự phát triển mạnh của thị trường chứ không phải khống chế thị trường. Nhà nước đóng vai trò chủ lực trong việc dự báo, định hướng phát triển quốc gia và hỗ trợ nhân dân làm giàu chứ không làm thay việc của dân và doanh nghiệp. Phải coi đầu tư của khu vực tư nhân là nguồn lực quốc gia cần được khơi dậy để trở thành động lực phát triển kinh tế mạnh mẽ hàng đầu. Để làm được việc đó, đầu tư Nhà nước cần định hướng mạnh hơn vào các dịch vụ công cộng, hoàn thiện và tăng cường hiệu lực của hệ thống pháp lý và hành chính, nâng cấp cơ sở hạ tầng, xây dựng một hệ thống giáo dục hiện đạo tăng cường hoạt động nghiên cứu triển khai (R&D), giải quyết các vấn đề xã hội, xóa đói giảm nghèo, v.v. Nhà nước tập trung đầu tư vào những lĩnh vực phục vụ các mục tiêu công bằng xã hội mà doanh nghiệp tư nhân không thể làm được, hạn chế đầu tư vào các lĩnh vực mà khu vực doanh nghịêp có những lợi thể trội bật hơn và thị trường cạnh tranh có thể tạo ra những động lực phát triển mạnh.

Thứ ba, cần xây dựng những Chương trình quốc gia trọng điểm mang tính đột phá cùng với những giải pháp đồng bộ trong một số lĩnh vực cụ thể. Xin được đề xuất với Chính phủ một số chương trình và giải pháp như sau:

Một là, Chương trình quốc gia phát triển doanh nghiệp

Kế hoạch Phát triển kinh tế xã hội 2006 - 2010 này sẽ chỉ là con số trên giấy nếu như tiềm năng của các doanh nghiệp không được khơi dậy. Chiến lược xây dựng cộng đồng doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân có khả năng cạnh tranh cao cần được coi là giải pháp đột phá, xuyên suốt. Với tầm quan trọng to lớn và tính cấp bách như vậy, chiến lược này phải được đặt ra và thực hiện trong khuôn khổ một trương trình quốc gia với sự tham gia của các bộ, ngành và được cụ thể hóa bằng chương trình hành động của từng địa phương. Chương trình này cần đặt trọng tâm vào 5 điểm sau:

1. Nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam, giúp chúng giảm thiểu nguy cơ bị tổn thương sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Cộng đồng doanh nghiệp mong muốn rằng trong giai đoạn tới, Chính phủ coi nhiệm vụ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh bằng cách tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, giảm các phí tổn tiêu cực và thất thoát do bộ máy điều hành yếu kém, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng, hỗ trợ tiếp cận và mở rộng thị trường, v.v. là chức năng kinh tế chính, cũng là một nội dung cam kết phát triển chủ yếu của mình.

2. Hỗ trợ xây dựng những doanh nghiệp quy mô lớn hùng mạnh, không phân biệt hình thức sở hữu để các doanh nghiệp này có đủ sức tạo dựng những thương hiệu Việt, đưa hàng hóa Việt Nam thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường khu vực và thế giới. Một điểm yếu có thể nhận thấy rất rõ ở các công ty Việt Nam là đang thiếu vắng những nhà lãnh đạo doanh nghiệp có tầm nhìn toàn cầu, có khả năng quản trị kinh doanh một cách khoa học và bài bản. Nhu cầu tạo lập một đội ngũ các nhà lãnh đạo doanh nghiệp tầm cỡ, có thể đảm đương những vị trí quan trọng trong các doanh nghiệp lớn đang rất cấp bách. Chính phủ cần tích cực tạo điều kiện để hình thành đội ngũ doanh nhân này thông qua việc xác lập các chương trình hỗ trợ đào tạo phổ cập và nâng cao.

Bên cạnh việc xây dựng các tập đoàn, công ty lớn có khả năng tạo thương hiệu quốc gia, Nhà nước còn phải chú ý hỗ trợ phát triển khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, hình thành ngày càng đông đảo các doanh nghiệp vừa đủ lớn để có hiệu quả, vừa đủ nhỏ để linh hoạt và nhiệm vụ đặt ra là phải tiếp tục cải thiện các thủ tục hành chính, hệ thống thuế và các biện pháp trợ giúp khuyến khích chuyển các hộ kinh doanh cá thể sang hình thức tổ chức kinh doanh hiện đạp và hiệu quả hơn là doanh nghiệp.

3. Tập trung sức phát triển của một số ngành chọn lọc, mũi nhọn, đồng thời xây dựng mối liên kết giữa các doanh nghiệp Việt Nam với nhau và với doanh nghiệp nước ngoài để khẳng định vị trí của các doanh nghiệp Việt Nam trong hệ thống phân công lao động quốc tế được kiến trúc theo các “Chuỗi giá trị toàn cầu”, lựa chọn thu hút đầu tư một số công đoạn thượng nguồn, xây dựng các trung tâm nghiên cứu và phát triển. Chừng nào trong các chuỗi giá trị toàn cầu đó, hàng hóa “Made in Vietnam” còn nằm lay lắt ở hạ nguồn, chủ yếu sử dụng lao động rẻ và tài nguyên không được tái tạo với giá trị gia tăng thấp, thì không thể hy vọng ở việc tăng trưởng mạnh, có chất lượng hay khả năng cạnh tranh bền vững. Liên quan đến vấn đề liên kết kinh tế, chúng tôi cũng muốn đề cập đến việc hình thành các cụm, khu công nghiệp hiện nay ở các địa phương. Nước ta có rất nhiều cụm, khu công nghiệp. Nhưng phần lớn chúng mới chỉ được coi là nơi giải quyết vấn đề mặt bằng sản xuất chứ chưa phải là một hình thức kinh doanh hiện đại để tạo giá trị gia tăng nhờ sự liên kết giữa các doanh nghiệp cả theo chiều ngang và theo chiều dọc, tiếp cận một số dịch vụ có liên quan để khai thác lợi thế cạnh tranh. Đề nghị các địa phương quan tâm định hướng qui hoạch và tổ chức khu, cụm công nghiệp theo mô hình liên kết như vậy.

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang đóng góp rất tích cực vào việc nâng cao năng lực sản xuất và xuất khẩu, nhưng hiện nay mối liên kết giữa các doanh nghiệp đó với các doanh nghiệp trong nước rất yếu. Vì vậy, chúng ta không tận dụng được một cách có hiệu quả những lợi ích mà khu vực này mang lại. Hơn nữa, các công ty nước ngoài đang có khuynh hướng nhập các yếu tố đầu vào thay vì sản xuất nội địa. Lý do chính là sự yếu kém cả về giá cả, chất lượng và khả năng cung ứng của hàng nội địa so với hàng nhập ngoại. Rút ngắn khoảng cách để sản phẩm nội địa trở thành đầu vào quan trọng cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải là một chiến lược quan trọng. Và chiến lược đó được thực hiện phải bằng chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam đổi mới công nghệ chứ không phải biện pháp áp đặt “tỷ lệ nội địa hóa” và thuế nhập khẩu linh kiện cao hơn nhập khẩu nguyên chiếc như hiện nay.

4. Sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước là một bộ phận không thể tách rời của Chương trình quốc gia phát triển doanh nghiệp. Nhiệm vụ này nằm trong mối quan hệ biện chứng với việc phát triển khu vực dân doanh và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Việc thực hiện nó đòi hỏi phải có những biện pháp vĩ mô kiên quyết và dứt điểm. Mục tiêu là để cổ phần hóa thực sự trở thành là động lực để khơi dòng chảy của những nguồn vốn, tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng trên cơ sở từng bước hạn chế độc quyền của một số ít doanh nghiệp Nhà nước và bảo vệ các cổ đông thiểu số và nâng cao vị thể của các nhà đầu tư tư nhân. Cần xây dựng một số chế tài để hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết những vấn đề thuộc về quản trị doanh nghiệp sau cổ phần hóa, gắn quá trình cổ phần hóa với phát triển thị trường chúng khoán, hướng các doanh nghiệp vào việc xây dựng chiến lược phát triển công ty sau cổ phần hóa một cách rõ ràng, minh bạch.

5. Cùng với quá trình hội nhập cần tích cực xây dựng văn hóa kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Đó là xây dựng một truyền thống kinh doanh mang tính cộng đồng dân tộc cao, tạo cơ chế và sức mạnh tập thể để các doanh nghiệp Việt Nam có thể hỗ trợ lẫn nhau trong cạnh tranh quốc tế. Để làm được việc này, cần đặc biệt nhấn mạnh vai trò của các Hiệp hội doanh nghiệp. Chúng ta đã có đủ những bài học đắt giá để thấy rõ tầm quan trọng của các Hiệp hội khi các doanh nghiệp phải đối mặt với các vụ tranh chấp thương mại và các rào cản khi thâm nhập các thị trường quốc tế. Sắp tới Hiệp hội doanh nghiệp còn phải đảm nhận nhiệm vụ phối hợp hành động trên sân nhà để bảo vệ thị trường nội địa khi các biện pháp hành chính của chính phủ phải dỡ bỏ theo qui định của WTO. Đề nghị các cơ quan Chính phủ tin vào hiệp hội mạnh dạn giao cho các Hiệp hội doanh nghiệp thực hiện một số Chương trình xúc tiến, một số dịch vụ để qua đó, tăng cường năng lực cho các Hiệp hội. Mặt khác, các doanh nghiệp cũng phải có trách nhiệm với Hiệp hội của mình, đóng góp cho sự nghiệp phát triển chung theo một ý nghĩa rất rõ ràng rằng tất cả đang cùng trên con thuyền Việt Nam trong cuộc đua trên đại dương thế giới.

Hai là, đẩy mạnh các Chương trình xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp hội nhập.

Từ góc độ cộng đồng doanh nghiệp, nhìn nhận các vấn đề “hậu gia nhập” WTO, chúng tôi thấy nổi lên một số yêu cầu sau.

1. Vấn đề làm sao Việt Nam tận dụng được tối đa quyền được các thành viên WTO tôn trọng những chính sách bảo vệ thương mại, và trong trường hợp cần thiết có thể ban hành những luật lệ phục vụ điều này. Chính phủ đã có lộ trình cắt giảm trợ cấp cho một số lĩnh vực. Doanh nghiệp cần được tham gia thảo luận và được biết về lộ trình này để có sự chuẩn bị. Mặt khác, để tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp, Chính phủ cần xây dựng các chương trình trợ giúp phù hợp và không trái quy định WTO.

2. Xây dựng một Trung tâm về WTO. Bước ra đấu trường WTO với luật chơi chung của thị trường thế giới, các doanh nghiệp cần có đủ sức chơi và phải hiểu luật chơi. Cộng đồng doanh nghiệp kiến nghị ngoài việc hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh, Chính phủ cần có chương trình hỗ trợ pháp lý cho các doanh nghiệp. Để làm việc này, đề nghị Chính phủ có cơ chế tập hợp đội ngũ chuyên gia tư vấn về WTO, trên cơ sở đó, xây dựng những nhóm đặc nhiệm để xử lý các vấn đề phát sinh. Một Trung tâm WTO được thành lập sẽ là đầu mối tốt để đưa ra những thông tin kịp thời, tư vấn cho cả công chức lẫn doanh nghiệp về các vấn đề liên quan đến WTO. Về phía các doanh nghiệp, cần chuẩn bị sẵn sàng về mặt pháp lý để đối phó với những vụ kiện bán phá giá, tranh chấp thương mại v.v chắc chắn sẽ xảy ra thường xuyên hơn sau khi gia nhập WTO.

Ba là, đẩy mạnh phát triển thị trường khoa học - công nghệ. Không phát triển được thị trường công nghệ thì không thể nói đến chất lượng tăng trưởng. Tăng trưởng kinh tế trong những năm vừa qua mới chủ yếu dựa vào tích lũy vốn. Năng suất lao động chỉ đóng góp được 20%. Giá trị gia tăng trong sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Nhưng việc phát triển thị trường công nghệ không phải là một công việc dễ dàng. Nó đòi hỏi nguồn vốn lớn và chiến lược thị trường thích hợp. Chính vì vậy, vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực này hết sức to lớn. Sự hỗ trợ của nhà nuớc cho khâu nghiên cứu - phát triển sẽ giúp các doanh nghiệp nâng cao căn bản năng lực cạnh tranh. Kinh nghiệm bước đầu của TP. Hồ Chí Minh trong lĩnh vực này mấy năm gần đây được nghiên cứu và tham khảo.

Bốn là, tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, trọng tâm là cải cách hành chính, giải quyết các vấn đề như tiếp cận đất đai, giảm chi phí đầu vào, bài trừ nạn nhũng nhiễu cản trở lưu thông hàng hóa... Những nỗ lực to lớn của Chính phủ đã thu được kết quả bước đầu nhưng chưa đủ để tạo sự đột phá lớn, đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Nhà nước cần xây dựng cơ chế để các doanh nghiệp chủ động tham gia kiến tạo môi trường kinh doanh, xây dựng chiến lựợc và chính sách phát triển kinh tế xã hội ở cấp quốc gia, ngành và địa phương với vai trò chủ thể chứ không phải chỉ là khách thể, chịu sự điều chỉnh của các chiến lược, chính sách này. Với sự tham gia của doanh nghiệp, các quy hoạch ngành, quy hoạch vùng và các chính sách kinh tế chắc chắn sẽ được xây dựng trên cơ sở lợi thế cạnh tranh vững chắc hơn. Mặt khác, bằng sự tham gia của mình, các doanh nghiệp sẽ nắm được định hướng phát triển chung để có thể xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp. Cơ chế đối thoại giữa các cơ quan Chính quyền với doanh nghiệp đã được khởi động trong những năm qua cần đi vào thực chất và có hiệu quả hơn

Năm là, phải có chính sách đột phá để phát triển nguồn nhân lực và xây dựng quan hệ lao động hài hòa trong doanh nghiệp ở nước ta. Hiện nay, nguồn nhân lực tay nghề thấp, tác phong công nghiệp, tinh thần kinh doanh chưa cao đang là một cản trở lớn ở nước ta. Cụ thể, nó đã hạn chế việc tiếp thu công nghệ mới được chuyển vào thông qua đầu tư nước ngoài; hệ thống đào tạo nghề chưa gắn với nhu cầu của doanh nghiệp đang gây lãng phí lớn. Sự phát triển kinh tế thị trường đòi hỏi việc phát triển nguồn nhân lực phải gắn chặt với nhu cầu phát triển kinh tế và bắt nguồn từ doanh nghiệp. Tinh thần và ý chí kinh doanh cần được nuôi dưỡng cho học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Nhà nước cần khuyến khích mạnh mẽ mô hình đào tạo nghề tại doanh nghiệp, nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp lớn trong đào tạo tay nghề cho các doanh nghiệp nhỏ. Các chính sách tuyển chọn, sử dụng nhân tài và phát huy lợi thế một quốc gia có dân số trẻ phải luôn luôn tính đến và dựa trên cơ sở thị trường. Chiến lược phát triển thị trường lao động cần mang tính trung và dài hạn. Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010 phải đặt được nền móng cơ bản, đồng thời đưa ra được những biện pháp cấp bách để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Việt nam.

Cùng với nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực, việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa trong doanh nghiệp cũng là một nhân tố quan trọng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm phát triển bền vững cho cộng đồng doanh nghiệp. Bên cạnh việc tiếp tục sớm hoàn chỉnh khung khổ pháp lý điều chính lĩnh vực quan hệ lao động như Luật Lao động, Luật bảo hiểm xã hội, pháp lệnh đình công v.v... đề nghị thể chế hóa và triển khai sớm hình thành cơ chế ba bên trong lĩnh vực này, phát huy vai trò đại diện cho giới sử dụng lao động của các hiệp hội doanh nghiệp.

Kính thưa Thủ tướng
Thưa các đồng chí

Trên đây, chỉ là một số kiến nghị chung rút ra từ mấy trăm ý kiến và kiến nghị mà các doanh nghiệp gửi về Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam qua các báo cáo tham luận và các phiếu điều tra khảo sát trong quá trình chuẩn bị cho Hội nghị. Cùng với báo cáo chung này, chúng tôi còn gửi tới Thủ tướng và Hội nghị bản thông kê chi tiết các ý kiến, kiến nghị của doanh nghiệp và tập kỷ yếu hội nghị đăng tản tòan văn các bài phát biểu. Đó là những ý kiến tâm huyết và đầy trách nhiệm trước sự phát triển đất nước của công đồng doanh nghiệp. Chúng tôi hy vọng dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng, các cơ quan Chính phủ sẽ nghiên cứu kỹ để trả lời và có biện pháp giải quyết tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp.

Kính thưa Thủ tướng
Thưa các đồng chí

Năm 2006 là năm chúng ta có nhiều sự kiện lớn, Đại hội Đảng X và khởi đầu thực hiện kế hoạch 5 năm 2006 - 2010, năm chúng ta đăng cai tổ chức Hội nghị cấp cao APEC và có nhiều khả năng trùng với thời điểm nước ta gia nhập WTO. Đây có lẽ là một sự trùng hợp đầy ý nghĩa. Chúng tôi hy vọng sự trùng hợp đó sẽ tạo ra sức mạnh cộng hưởng để nền kinh tế Việt Nam sang một chu kỳ phát triển mới: chú trọng chất lượng, hiệp quả, bảo đảm tính bền vững, hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu và trở thành một nước công nghiệp. Tại Hội nghị này, một lần nữa thay mặt công đồng doanh nghiệp, tôi xin được chân thành cảm ơn Thủ tướng, vị Thủ tướng của doanh nghiệp, người đã khởi động quá trình đột phá chính sách theo hướng phát “giải phóng doanh nghiệp”, người đã khởi động quá trình cải cách hành chính theo hướng “phục vụ doanh nghiệp”, người đã góp phần định vị doanh nhân trong xã hội bằng quyết định Ngày doanh nhân Việt Nam...

Với đà và thế tạo được trong quá trình đổi mới, chúng tôi hy vọng Chính phủ sẽ tiếp tục tiến trình này trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 5 năm tới với những chương trình hành động quyết liệt và triệt để hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, doanh nhân phát triển.

Nói về mối quan hệ biện chứng giữa sự nghiệp kinh doanh của doanh nghiệp và nền kinh tế đất nước, cũng như quan hệ giữa Chính phủ và doanh nghiệp, hơn 60 năm trước, ngày từ ngày đầu lập nước, Bác Hồ kính yêu đã khẳng định“việc nước việc nhà bao giờ cũng đi liền với nhau”, “nền kinh tế quốc dân thịnh vường nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà công thương nghiệp thịnh vượng” và “Chính phủ nhân dân sẽ tận tâm giúp sức giới công thương trong công cuộc kiến thiết”.

Chúng tôi hy vọng tư tưởng Hồ Chí Minh về doanh nghiệp sẽ thực sự thấm sâu vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của chúng ta trong thời hội nhập này và giới doanh nhân xin hứa sẽ tiếp tục sát cánh cùng Chính phủ và nhân dân cả nước trong những nỗ lực phát triển.

Cuối cùng, một lần nữa, xin kính chúc Thủ tướng và tất cả các đồng chí đại diện các cơ quan Chính phủ, các nhà khoa học, các nhà báo một năm mới dồi dào sức khỏe, tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp trên con đường xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh. Chúc các doanh nhân sung sức, tự tin, hội nhập và cạnh tranh thắng lợi.

Xin chân thành cảm ơn.

search