Thứ Ba, 17/02/2009 - 15:11

Nhận diện thị trường lúa gạo Việt Nam và thế giới

Chiều nay (17/2),  Viện chính sách và chiến lược PTNNNT, Báo Sài Gòn tiếp thị, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chi nhánh Cần Thơ, Hội Lương thực TP.HCM tổ chức buổi gặp gỡ DN nhằm giới thiệu Hội thảo “Triển vọng thị trường ngành Nông nghiệp Việt Nam” tại TP.HCM.

Đến tham dự có Giáo sư C.Peter Timmer - Đại học Stanford Hoa Kỳ, Ông Nguyễn Anh Tuấn - Tổng biên tập báo Sài Gòn tiếp thị, ông Đặng Kim Sơn – Tiến sĩ Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT, Tiến sĩ Võ Hùng Dũng – Giám đốc VCCI Cần Thơ cùng đại diện trên 70 DN khu vực ĐBSCL, TP.HCM, Đồng Nai…và các cơ quan thông tin truyền thông trung ương, địa phương.

Tại buổi gặp gỡ các đại biểu đã được nghe giới thiệu về Hội thảo Triển vọng thị trường ngành Nông nghiệp Việt Nam sẽ được tổ chức vào ngày 24,25 tháng 3 sắp tới; Những thông tin về nông nghiệp, thị trường nông nghiệp Việt Nam…

Bên cạnh đó các đại biểu còn được nghe Giáo sư C.Peter Timmer chia sẻ những kinh nghiệm về phát triển thị trường nông sản ở Châu Á và trên thế giới cùng với những thông tin về tình hình phát triển nông nghiệp ở ĐBSCL của Tiến sĩ Võ Hùng Dũng…

Giáo sư C. Peter Timmer, từng giảng dạy trên 40 năm tại các đại học Harvard, Stanford, Cornell, California và là chuyên gia cao cấp tại trung tâm hội nhập toàn cầu - cơ quan nghiên cứu và tư vấn chính sách nổi tiếng của Hoa Kỳ. Tham gia buổi giao lưu còn có tiến sĩ Võ Hùng Dũng, giám đốc phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam chi nhánh Cần Thơ. Hai chuyên gia này cùng giải đáp thắc mắc và đưa ra những tư vấn, gợi ý về ngành hàng lúa gạo.
Buổi giao lưu này nằm trong chuỗi sự kiện của Hội thảo về triển vọng thị trường ngành nông nghiệp Việt Nam 2009 (sẽ diễn ra vào ngày 24 – 25.3, tại khách sạn Rex, 141 Nguyễn Huệ, Q.1, báo Sài Gòn Tiếp Thị bảo trợ thông tin).

Lúa gạo là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Chỉ tiêu xuất khẩu gạo 2009 của Việt Nam sẽ vào khoảng 4,5 – 5 triệu tấn, kim ngạch khoảng hai tỉ USD. Những năm gần đây, an ninh lương thực là vấn đề cả thế giới quan tâm, nhất là sự kiện sốt gạo năm ngoái khi giá gạo được đẩy lên trên 1.000 USD/tấn. Theo dự báo của Tổ chức lương nông Liên hiệp quốc, lúa gạo vẫn trong xu hướng tăng giá trong những năm tới.

Định vị gạo Việt Nam trong cấu trúc thị trường gạo thế giới?(Lê Thị Ngọc Dung)

Giáo sư C. Peter Timmer

Giáo sư C. Peter Timmer: At the moment, Vietnam is the world's second largest exporter, after only Thailand. But it is a "distant" second, with the capacity to export about 5 million metric tons in 2009, compared with the capacity of Thailand to export about 10 mmt. But Thailand's exports are expensive relative to Vietnam, and Vietnam is now beginning to capture market share from Thailand, India (which is now out of the market) and Pakistan, which is an important exporter of low-quality rice, especially to the Middle East and Africa. To build on these gains, Vietnam needs to invest in three important areas: (1) raising productivity of its small rice farmers by providing good technology and access to inputs--in the longer run some consolidation of farm size will be needed for Vietnam's farmers to earn enough income; (2) modernize the rice marketing sector in Vietnam by encouraging an integration of the domestic and international markets, especially through good variety selection and high quality storage and milling (supermarkets are likely to play an important role in this modernization); and (3) better government policies for the rice sector that will balance the short-run political concerns of the government with the interests of farmers and traders in remaining competitive suppliers to the world rice market.  Being seen as a reliable, high-quality rice exporter is very important to the future success of Vietnam's rice sector.

Hiện tại Việt Nam là nước xuất khẩu gạo thứ hai thế giới chỉ sau Thái Lan. Nhưng hàng thứ hai này quá cách xa nhiều điểm: năng lực xuất khẩu chỉ 5 triệu tấn so 10 triệu tấn của Thái Lan nhưng giá lại rẻ hơn Thái Lan. Gần đây, Việt Nam bắt đầu chiếm thị phần của Thái Lan tại Ấn Độ và Pakistan, một nước xuất khẩu gạo chất lượng thấp chủ yếu đi Trung Đông, châu Phi. Để phát huy những lợi thế này, Việt Nam cần phải đầu tư vào ba lĩnh vực quan trọng. Thứ nhất, tăng sản lượng đối với các nông hộ nhỏ bằng cách đầu tư công nghệ, mở rộng  quy mô sản xuất của nông hộ để có đủ hàng hoá. Thứ hai là hiện đại hoá thị trường gạo Việt Nam bằng cách khuyến khích thâm nhập vào thị trường nội địa và quốc tế, đặc biệt thông qua sự đa dạng về chủng loại và chất lượng xay xát và tồn trữ cao (hệ thống siêu thị đóng vai trò quan trọng trong việc hiện đại hoá này). Thứ ba, Chính phủ cần có những chính sách tốt hơn cho ngành sản xuất gạo trong nước. Những chính sách này cần phải cân bằng những lợi ích chính trị ngắn hạn của chính phủ và quyền lợi của nông dân và những người kinh doanh gạo để duy trì khả năng cung cấp cạnh tranh vào thị trường gạo thế giới. Phải là nhà xuất khẩu gạo chất lượng cao và đáng tin cậy mới là yếu tố quan trọng trong tương lai của ngành gạo Việt Nam.

TS. Võ Hùng Dũng: Từ năm 1989 đến 2008 VN đã xuất khẩu 65 triệu tấn gạo và khẳng định được tư thế của VN trên thị trường gạo ở loại phẩm cấp trung bình. VN cũng đã thử nghiệm việc xuất khẩu gạo có phẩm chất cao như gạo thơm, nhưng chưa thành công. Thị trường gạo của VN tuy đa dạng nhưng hiện nay chính là châu Á, nhiều nước nhập khẩu gạo VN đã quen và ưa thích trong sử dụng. Những loại gạo nói trên cũng phù hợp với hệ thống canh tác của ĐBSCL: ngắn ngày, năng suất cao. Đây là điểm mạnh đã được khẳng định, VN cần duy trì. Do đất canh tác hẹp nên cần chú ý đến năng suất cao, vòng quay nhanh, thời vụ gieo trồng ngắn. Chính yêu cầu trong nước định hình chiến lược xuất khẩu gạo của VN.

Nếu phân tích theo chuỗi giá trị, Việt Nam cần làm gì để có một nền nông nghiệp công nghệ cao? Số liệu thống kê cho thấy, tuy xuất khẩu gạo nhiều, nhưng Việt Nam cũng nhập khẩu đầu vào cho nông nghiệp khá cao như phân bón, thuốc trừ sâu... Tính ra trong chuỗi cung giá trị, người nông dân đang tạo ra giá trị gia tăng khá thấp, cộng thêm với diện tích đất nông nghiệp trên bình quân đầu người thấp, nên họ khó cải thiện thu nhập. Và lúc đó, không thể tăng khả năng tích tụ ruộng đất để có lợi thế quy mô. Vòng luẩn quẩn đó sẽ được giải quyết bằng chính sách như thế nào? (Mạc Vy)

TS. Võ Hùng Dũng: Chuỗi giá trị gạo là một chuỗi giá trị rất lớn trong phạm vi toàn quốc, không chỉ liên quan đến những người nông dân trồng lúa mà còn liên quan đến hệ thống dịch vụ, cung cấp các dịch vụ cho phân bón, thuốc trừ sâu, các nhà phân phối, hệ thống, cơ sở hạ tầng, năng lực hoạt động của các hiệp hội liên quan đến người nông dân trồng lúa, nhà chế biến, nhà xuất khẩu... Tổng thể đây là vấn đề rất lớn của quốc gia. Chúng ta cần phân tích từng điểm yếu trong hệ thống chuỗi đó là gì để có các biện pháp cải thiện năng lực cạnh tranh toàn chuỗi. Hiện nay chưa có phân tích nào về chuỗi giá trị về ngành lúa gạo ở VN mà chỉ có một số phân tích nhỏ về chuỗi giá trị xuất khẩu gạo. Nói đến chuỗi là nói đến năng lực cạnh tranh của cả ngành hàng, liên quan đến nhiều dịch vụ, hoạt động. Nên có những dự án lớn nghiên cứu về chuỗi giá trị của gạo, nếu chưa được như vậy thì cũng nên có một nghiên cứu về chuỗi giá trị gạo ở ĐBSCL. Từ những phân tích mới có thể những đề xuất xác đáng. Để có nền nông nghiệp cao, cần có đầu tư lớn cho nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ nông nghiệp và chính sách để khuyến khích đầu tư, cũng như nâng cao trình độ của những người nông dân tham gia. Các địa phương nên có những mô hình nhỏ khuyến khích các vườn ươm công nghệ chế biến những sản phẩm nông nghiệp.

Xin hỏi TS Dũng, nông dân ĐBSCL đang thu hoạch lúa, vừa được mùa lại được giá. Vậy nông dân bán lúa thời điểm này có hợp lý không? vì nhiều người cho rằng giá có thể tiếp tục lên. (Nguyên Khải)

TS. Võ Hùng Dũng:  Nếu đúng như bạn đã nhận định, vừa được mùa vừa được giá thì đây là thời điểm tốt để bán. Vẫn có những nhận định giá gạo trên thị trường quốc tế sẽ còn tăng, nhưng vẫn có những công ty mua gạo của VN cho rằng do thời vụ của VN và vụ mùa này đang trúng nên họ muốn có giá cạnh tranh hơn. Các hợp đồng mà VN đã ký cũng có số lượng khá lớn nên việc giảm giá xuất khẩu khó xảy ra. Việc quyết định bán vào lúc nào là hành vi của mỗi doanh nghiệp. Với người nông dân cũng vậy, không ai có thể đưa một lời khuyên đảm bảo đâu là thời điểm tốt nhất mà chỉ có thể cung cấp thông tin. Thị trường luôn có rủi ro. Những người có thông tin tốt sẽ có những quyết định chính xác.

Người ta nói rằng khủng hoảng giá gạo vừa qua một phần do các nước sử dụng lương thực làm nhiên liệu sinh học, và cách khắc phục khủng hoảng là ứng dụng rộng rãi công nghệ biến đổi gene, nhưng còn có các ý kiến khác nhau về vấn đề này. Quan niệm của các nhà khoa học Hoa Kỳ như thế nào? (Ngọc Ngân)

Giáo sư C. Peter Timmer: US scientists argue that there is a potential link between the successful development of genetically modified (GM) crops and the efficient development of bio-fuels. No respectable scientist believes that the US can morally or economically continue to use corn (maize) as the basis of its ethanol bio-fuel industry because of the impact on world food prices.  It is not acceptable to force poor people to compete for food with rich American automobile drivers.

The solution, many scientists think, is to develop new GM technologies in two different fields.  First, we need new molecular technologies to break down cellulosic materials, not just plant sugars that are easy to convert into alcohol.  There are many promising pilot projects in this field, but no commercially viable technologies are available yet. Second, many argue that GM technologies can raise the productivity of field crops that could be converted into biofuels by making photosynthesis more efficient and by reducing water requirements.  Much research is underway in this area, but no breakthroughs have been announced.  Because of environmental concerns about GM technologies and the careful regulatory steps they must go though before being adopted in the field, this potential of GM crops is at least a decade, and probably two decades away.

My own opinion is that biofuels will play only a small role in solving our problem of energy sustainability.  Instead, more efficient capture of solar energy, especially when electricity storage systems are radically improved, will be the low-cost solution to fossil fuels in the future.

Các nhà khoa học Mỹ cho rằng có một liên kết tiềm năng giữa phát triển thành công các giống biến đổi gene (GM) và phát triển hiệu quả nhiên liệu sinh học. Không một nhà khoa học nào tin rằng Mỹ vừa đạo đức và vừa có hiệu quả kinh tế với mặt hàng bắp làm nguyên liệu cơ bản cho ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học ethanol, bởi vì tác động của giá lương thực trên thế giới. Không thể chấp nhận được khi buộc những người nghèo cạnh tranh kiếm lương thực với những ông nhà giàu đi xe hơi của Mỹ.

Giải pháp mà nhiều nhà khoa học nghĩ là phát triển kỹ thuật GM mới ở hai lĩnh vực. Thứ nhất, chúng ta cần kỹ thuật để đem lại những giá trị cao, không chỉ là trồng mía để rồi chưng cất thành cồn rượu. Có rất nhiều dự án thử nghiệm đầy hứa hẹn trong lĩnh vực này, nhưng chưa có kỹ thuật nào được thương mại hoá cả.

Thứ hai, nhiều người cho rằng công nghệ GM có thể tăng sản lượng nông sản, nhưng tiết kiệm nguồn nước, để làm nguyên liệu chế biến các sản phẩm sinh học. Nhiều nghiên cứu được tiến hành trong lĩnh vực này nhưng chưa có đột phá nào để công bố, vì những lo ngại về môi trường của công nghệ GM và những quy định rõ ràng trước khi chấp nhận những tiến bộ trong lĩnh vực này. Tiềm năng của những vụ mùa ứng dụng công nghệ GM ít nhất phải mất vài thập kỷ nữa mới thành hiện thực.

Ý kiến riêng của tôi là nhiên liệu sinh học chỉ đóng một vai trò nhỏ trong việc giải quyết vấn đề năng lượng bền vững. Thay vào đó, nắm bắt hiệu quả năng lượng mặt trời nhất là khi hệ thống lưu trữ điện đã phát triển vượt bậc. Đây sẽ là giải pháp rẻ tiền để thay thế nhiên liệu hoá thạch trong tương lai.

TS. Võ Hùng Dũng

TS. Võ Hùng Dũng: Điều bạn vừa đề cập chỉ là một trong nhiều nguyên nhân làm giá gạo tăng vọt trong thời gian qua. Nguyên nhân chính làm cho giá gạo tăng vọt là nguồn cung gạo từ các quốc gia đang trên đà công nghiệp hoá như Ấn Độ giảm sút. Tại các quốc gia này, một phần đáng kể diện tích trồng lúc đã chuyển sang sử dụng vào việc khác. Thành quả của cuộc "Cách mạng xanh" ở Ấn Độ của thập niên 60 thế kỷ 20 đã làm cho sản lượng lúa gạo tăng vọt trong nhiều năm, làm cho nhiều quốc gia lơ là trong chính sách với ngành lúa gạo. Việc giá lúa gạo suy giảm liên tục cũng làm cho những người nông dân trồng lúa không quan tâm đến việc gia tăng năng suất, đó là những nguyên nhân chính. Việc sử dụng thực phẩm lương thực làm giảm thêm nguồn cung chỉ là một phần, vào lúc người ta thấy lúa gạo dự trữ, sản lượng sản xuất đang giảm sút, một số quốc gia trên thế giới đã phản ứng một cách quá đáng hoặc nỗ lực tìm kiếm nguồn cung để nhập khẩu cho quốc gia, như Philippines. Nhiều quốc gia khác lại lo lắng an ninh lương thực nên đã cấm xuất khẩu gạo (như Ấn Độ). Chính những yếu tố này đã làm gia tăng thêm cơn hoảng loạn đẩy giá tăng vọt có lúc hơn 1.000USD/ tấn.

Khi người ta bình tĩnh lại, đánh giá lại nguồn cung từ các kho dự trữ thì thấy rằng không đến mức thiếu hụt nghiêm trọng như vậy. Nhu cầu nhập khẩu giảm, các nước đó trước đó đã từng cấm xuất khẩu nay quay lại cho xuất khẩu thì giá gạo lập tức giảm xuống hơn một nửa. Nhu cầu về nhiên liệu sinh học vẫn đang gia tăng. Dầu hoả mặc dù hiện nay đang ở giá thấp nhưng tương lai nó cũng vẫn tăng trở lại. Để tránh đụng đến vấn đề lương thực, nhiều nước đang tìm kiếm từ những loại cây khác thay cho lương thực, nhưng chắc chắn khi giá lương thực giảm, giá dầu tăng thì người ta cũng sẽ quay lại sử dụng lương thực làm nhiên liệu sinh học. Với những nước nhập khẩu gạo, giá gạo tăng là tai hoạ thì với những nước xuất khẩu, giá gạo tăng sẽ giúp cho nông dân giữ nhịp độ sản xuất. Đây là một vấn đề cân bằng trên thị trường: khi giá cả thay đổi, người ta sẽ có những quyết định có lợi cho mình.

Xin tiến sĩ Dũng cho biết liệu mô hình nông trang (farm) với chủ nhân nông trang sở hữu diện tích ruộng lúa không giới hạn có là giải pháp tốt hơn kiểu manh mún xé nhỏ ruộng đồng cấp phát cho nông dân như áp dụng ở nước ta không, vì chỉ có trang chủ mới có tài lực đầu tư giống/phân bón/thuốc trừ sâu bệnh, quản lý sản xuất & kinh doanh hiệu quả, chủ động trong tổ chức phân phối & tự tìm lối ra xuất khẩu, và nhất là bảo đảm số lượng lớn hơn đồng nhất về chất lượng, hình thành nhiều thương hiệu riêng cho doanh chủ cũng như chủng loại lúa gạo Việt Nam? (Hoàng Hữu Phước)

TS. Võ Hùng Dũng: Với diện tích manh mún sẽ rất khó để áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ nhằm gia tăng năng suất, đặc biệt là không kiểm soát được chất lượng và nguồn gốc sản phẩm. Đây là một trong những yêu cầu quan trọng để tiêu thụ sản phẩm, không chỉ với ruộng lúa mà với nhiều loại cây trồng khác. Những yếu tố này là hạn chế lớn việc gia tăng năng suất và đưa sản phẩm nông nghiệp VN ra thị trường nước ngoài.  Hiện nay, hạn điền cũng đã cản trở lớn đến việc tích tụ ruộng đất và việc hình thành các trang trại quy mô. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề cần có thêm những phân tích ở VN, bởi lịch sử từ trước tới nay người nông dân đã quen với mảnh ruộng của mình, họ rất khó chuyển giao cho người khác để rồi chuyển sang làm thuê. Một sự thay đổi nhanh có thể gây ra những biến đổi về cấu trúc văn hoá ở nông thôn và người ta cũng chưa biết khi cấu trúc văn hoá đó bị phá vỡ thì những hậu quả gì xảy ra. Có thể là sau một vài thập kỷ nữa khi con cái của những người nông dân được học hành nhiều hơn và họ chuyển sang những hoạt động sản xuất kinh doanh khác thì mô hình các nông hộ diện tích nhỏ sẽ thay đổi .Ở nhiều nước cũng đã xảy ra tình trạng sau một vài thập kỷ phát triển thì những người thanh niên ở nông thôn không còn tha thiết với nông nghiệp, họ bỏ lên thành phố, chỉ còn những người lớn tuổi mất sức lao động ở lại, nông thôn nông nghiệp khi đó lại đứng trước một vấn nạn khác. Nói chung vấn đề đối với nông nghiệp nông thôn là cực kỳ phức tạp. Trong thời kỳ chuyển đổi, không có gì là chắc chắn thay thế mô hình nông hộ nhỏ bằng trang trại với quy mô lớn trong nông nghiệp hiện nay là sẽ mang lại một kết quả tốt đẹp. Việc có một vài trang trại quy mô lớn thử nghiệm trong lúc này là cần thiết để khuyến khích những nhà kinh doanh trong nông nghiệp.  Vấn đề này liên quan đến chính sách của Chính phủ khuyến khích đầu tư trong nông nghiệp.

Hiện nay, việc xuất khẩu gạo Việt Nam chủ yếu thông qua các tổng công ty lương thực, điều này tạo ra thế độc quyền. Vậy theo hai ông, có nên cho xuất khẩu tự do không? Nếu có, bài toán đảm bảo an ninh lương thực cần giải quyết như thế nào? Lê Nguyễn, Cần Thơ

Giáo sư C. Peter Timmer: This is a sensitive but important question. Should Vietnam's rice exports be largely controlled by a state-owned monopoly enterprise? The rationale for such control is to provide policymakers with a mechanism to stabilize domestic rice prices.  In fact, however, the operation of the Vietnamese rice export enterprises has actually destabilized domestic prices, hurting both farmers and consumers. The only real beneficiary of the current rice export system is the enterprises themselves. Their monopoly control of export licenses, access to domestic rice supplies, and financing mechanisms is very profitable for the enterprises, but comes at high cost to Vietnam's reputation as a reliable and efficient rice exporter.

Stabilizing domestic rice prices is a highly legitimate economic and political goal, but there are much more efficient ways to reach that policy objective.  Most trade economists think that variable import and export taxes on rice trade are the most efficient mechanisms to achieve domestic price stability, and this is true in theory.  But most governments have political and bureaucratic difficulties implementing this optimal policy.  My own preference is for a floor and ceiling price policy, with a wide price band announced well in advance of each year's main planting season.  The band needs to be wide enough for the private sector to carry out virtually all of domestic rice marketing, and the band needs to follow prices in the world market over time.  For an exporting country such as Vietnam, the domestic price band probably has to follow world prices even in the short run, over a period of months rather than years. Rice exporting countries, to remain commercially competitive, must design their domestic rice marketing system to be "open" to the world market.

Đây là một câu hỏi nhạy cảm nhưng quan trọng. Việt Nam có nên để các tổng công ty lương thực kiểm soát ngành xuất khẩu gạo? Kiểm soát hợp lý nhất là cung cấp những nhà làm chính sách và một cơ chế bình ổn giá gạo nội địa. Thật ra, chính hoạt động của các tổng công ty xuất khẩu gạo Việt Nam làm bất ổn giá gạo nội địa, làm tổn hại cả nông dân lẫn người tiêu dùng. Lợi ích duy nhất của hệ thống xuất khẩu gạo hiện nay là của chính các tổng công ty. Họ kiểm soát độc quyền giấy phép xuất khẩu gạo, chi phối hệ thống cung cấp gạo nội địa, và cơ chế tài chính rất có lợi cho các tổng công ty này. Nhưng những điều này buộc Việt Nam phải trả giá đắt bằng chính danh tiếng của mình, danh tiếng của một nhà xuất khẩu có hiệu quả và tin cậy.

Ổn định giá gạo trong nước là một mục tiêu pháp lý cao của nền kinh tế và chính trị, nhưng có nhiều cách hiệu quả để đạt mục tiêu chính sách đó. Hầu hết các nhà kinh tế thương mại nghĩ rằng đa dạng hoá thuế xuất nhập khẩu gạo là cơ chế hiệu quả nhất để bình ổn giá gạo nội địa, và điều này trên lý thuyết là có thật. Nhưng các chính phủ có những khó khăn về chính trị và quan liêu trong việc áp dụng chính sách lạc quan này.

Xin hỏi ông Timmer, vào thời điểm này ông dự báo thế nào về giá gạo thế giới từ nay đến hết năm 2009? (Đức Tâm, Long Xuyên, An Giang)

Giáo sư C. Peter Timmer: That's an easy question.  What will be the world price of rice between now and the end of 2009.  According to the efficient market hypothesis, the best forecast of the future price is the current price, because it reflects all available information that market participants can use to buy and sell a commodity.

Do you believe in the efficient market hypothesis?  I don't either.  But that's why forecasting future prices is so difficult, and almost alway wrong.  We simply do not have information about the future, and it is that future information that will change the current price to a different price.  So my forecast is that the price of rice at the end of 2009 will be the same as it is now (perhaps $430 per metric ton, 15% brokens, FOB HCMC), unless it changes.

I understand that is not a real answer.  So my best bet, looking forward at the uncertainties, is that rice prices will be somewhat higher at the end of the year than they are now, perhaps around $500 per ton.  My major uncertainty on that forecast is what happens to the world economy.  If it keeps going down, it will be very difficult for rice prices to go up.  If the US economy stays in deep recession throughout 2009, with no signs that it has reached the bottom, I think we could see rice prices (or this standard) as low as $300 to $350 per ton.

Giá gạo thế giới như thế nào từ đây đến cuối năm 2009? Tuỳ theo thị trường, dự đoán tốt nhất cho giá gạo tương lai chính là giá gạo hiện tại, bởi vì nó phản ánh tất cả những thông tin có sẵn để những đối tác tham gia thị trường có thể mua hoặc bán hàng.

Bạn có tin vào khả năng của thị trường không? Tôi cũng không tin! Việc dự đoán giá tương lai rất khó khăn và thường là sai, đơn giản là chúng ta không có thông tin về tương lai. Vì thế dự đoán của tôi về giá gạo thế giới vào cuối năm 2009 sẽ là bằng với giá gạo hiện nay, có lẽ khoảng 430 USD/tấn đối với loại gạo 15% tấm, giá FOB tại TP.HCM.

Tôi cho rằng đây không phải là câu trả lời thực sự. Vì những bất ổn mà giá gạo có thể sẽ cao hơn một chút vào cuối năm, chắc là khoảng 500 USD/tấn. Điều bất ổn lớn nhất mà tôi đưa vào dự đoán là những gì đang xảy ra đối với nền kinh tế thế giới. Nếu giá tiếp tục rớt, giá gạo sẽ rất khó để tăng lại. Nếu nền kinh tế Mỹ tiếp tục suy thoái như thế này trong suốt năm 2009, tôi cho rằng giá gạo rớt xuống mức khoảng 300 – 350 USD/ tấn.

Tôi nghĩ rằng Việt Nam nên chủ động kêu gọi các quốc gia xuất khẩu gạo lập ra tổ chức của các nước xuất khẩu gạo (OREC) như các nước xuất khẩu dầu hỏa (OPEC), nhưng cũng có nhiều ý kiến không đồng tình, do dầu khác gạo và Việt Nam không có tham vọng trong việc này. Theo giáo sư, có nên có một tổ chức như vậy và vai trò lãnh đạo tổ chức này là Thái Lan, nước xuất khẩu gạo số 1 thế giới? (Ngô Văn Tân)

Giáo sư C. Peter Timmer: The historical experience of international commodity cartels is not very positive. Even OPEC, which attempts to control the world oil market, has had very limited success at setting the world price, although it has been somewhat more successful at smoothing the world price along the price trend in oil markets. Previous efforts to control coffee, cocoa and rubber pricesfor example, were expensive failures. The lesson for an Organization of Rice Exporting Countries (OREC), which would have to include Vietnam, is that efforts to raise world prices above their long-run market level are not likely to be successful, and could be very expensive as exporting countries attempt to hold supplies off the market in order to push prices up. Vietnam's experience in 2008 was very painful--it withdrew export supplies from the world market just when prices were high, and then had to struggle to regain its customers, and pushed prices down sharply in the process.

It is possible that Vietnam could gain from OREC if Thailand, as the world's largest rice exporter, were willing to do all of the stockpiling needed to support world rice prices, and it might be in Thailand's short-run interests to do this.  But high prices will encourage increased rice production in other countries, including Vietnam, and these "free riders" on the OREC-determined export price will undermine political support in Thailand for such an expensive scheme.  Sooner rather than later, OREC would collapse.  My personal opinion is that OREC will never even get started...

Kinh nghiệm lịch sử của các tập đoàn lớn không tích cực cho lắm. Ngay cả với OPEC cố gắng kiểm soát thị trường dầu thế giới cũng chỉ có những thành công nhất định mà thôi trong việc làm giá trên thế giới, mặc dù nó cũng có một chút thành công trong việc làm giá dầu trên thế giới trơn tru hơn theo xu hướng giá trên thị trường dầu. Những cố gắng kiểm soát giá cà phê, ca cao, cao su trước đó đều thất bại và phải trả giá đắt. Bài học của tổ chức các nước xuất khẩu gạo (OREC) -  nếu có tổ chức này, trong đó có cả Việt Nam, là nỗ lực nâng giá thế giới trên mức độ thị trường dài hạn sẽ không thành công, và có thể phải trả giá đắt khi các nước xuất khẩu gạo cố kìm sản lượng để đẩy giá lên. Kinh nghiệm của Việt Nam năm 2008 rất là đau đớn. Nó rút sản lượng xuất khẩu khỏi thị trường thế giới khi giá vừa lên cao, rồi Việt Nam phải giữ khách và đẩy giá xuống thấp.

Có khả năng Việt Nam sẽ được lợi từ OREC nếu Thái Lan, nhà xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, sẵn sàng làm công việc tồn trữ cần thiết để củng cố giá gạo thế giới, và có thể Thái Lan có những lợi ích ngắn hạn để làm việc này. Nhưng giá cao sẽ làm tăng sản lượng gạo ở những quốc gia khác gồm Việt Nam và những thành viên không bị giới hạn bởi giá do OREC áp đặt sẽ làm suy giảm động cơ chính trị ở Thái Lan, và không sớm thì muộn OREC sẽ sụp đổ. Ý kiến riêng của tôi là không bao giờ khởi động OREC.

TS. Võ Hùng Dũng: Gạo và dầu hoả là khác nhau. Gạo là cho người ăn, liên quan đến vấn đề chính trị của mỗi nước, liên quan đến con người, tính nhân đạo, nhân văn. Việc lập những tổ chức xuất khẩu gạo tương tự như OPEC cũng đã có nước đề xuất, nhưng cũng có nhiều nước phản đối, đặc biệt là đối với những nước nhập khẩu gạo. Tổ chức lương nông LHQ (FAO) cũng không mặn mà với ý tưởng này và Việt Nam cũng rất dè dặt với ý tưởng này.

Một số nước đã hỗ trợ trực tiếp cho nông dân như mua với giá nhất định hoặc đưa tiền trực tiếp cho họ. Điều này sẽ làm méo mó thị trường. Quan điểm của ông như thế nào? Có hình thức nào để hỗ trợ nông dân hợp lý nhất mà không làm méo mó thị trường? Ngọc Minh, Tiền Giang

Giáo sư C. Peter Timmer: Good question.  How can we support farmers without distorting the market?  There are three ways to think about this question.  The first, in rich countries, is to ask whether farmers need additional support at all, as their incomes and productivity are the same as workers in the city.  This, of course, is a big political controversy in the US, Europe and Japan.

The second way to think about the question is to accept that farmers need support, but to find ways to provide that support without directly supporting farm incomes.  Investments in rural infrastructure, schools and access to modern communications can improve the standard of living of farmers, raise their productivity, and provide for intergenerational mobility, without directly influencing the terms of trade for agriculture.

The third way to think about the question goes directly to supporting farm incomes.  Even when this is the political objective, there are mechanisms that are more or less distorting to agricultural commodity markets, both domestically and globally. The most distorting support mechanisms raise farm price guarantees directly and then dump surplus production on the world market at a subsidized price.  The Uruguay Round of Agricultural Trade Negotiations attempted to end this most distorting form of farm protection, but it has been only modestly successful.  The Doha Round of Trade Negotiations is attempting to move this process forward, but has stalled.  The world financial crisis is likely to delay even further the Doha Round.

The least distorting form of support for farmer incomes is to provide income payment directly to deserving farmers, without any connection to choices about what crops to grow or how intensively to grow them.  The problem, even with this approach, is that such direct income payments still influence the decision of farmers about "exit," that is, whether to remain in the farm sector at all.  As we know from the structural transformation, the only long-run solution for equality of farmer incomes with those earned outside the agricultural sector is a substantial exit of farmers to the urban economy.  Slowing down that process is inefficient and "distorting," even if it is politically popular (and perhaps even equitable, although that is much more debatable).

Làm thế nào để hỗ trợ nông dân mà không làm méo mó thị trường? Có 3 cách nghĩ về câu hỏi này. Thứ nhất là ở những nước giàu là liệu nông dân có cần thêm hỗ trợ gì không, bởi vì thu nhập và sản lượng của họ tương đương với công nhân thành thị. Đây đương nhiên là một vấn đề tranh cãi chính trị lớn ở cả châu Âu, Mỹ và Nhật.

Cách nghĩ thứ hai là chấp nhận rằng nông dân cần hỗ trợ nhưng phải tìm ra cách hỗ trợ làm sao mà không hỗ trợ trực tiếp vào thu nhập của họ. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng nông thôn, trường học và các phương tiện truyền thông hiện đại có thể nâng cao tiêu chuẩn sống của nông dân, tăng sản lượng, và tạo cho họ tính năng động liên thế hệ mà không ảnh hưởng trực tiếp đến các điều khoản về thương mại trong nông nghiệp.

Cách nghĩ thứ ba là làm sao hỗ trợ trực tiếp vào thu nhập của nông hộ. Ngay cả khi vấn đề này gặp nhiều chống đối chính trị, nhưng vẫn có những cơ chế không ít thì nhiều làm biến dạng thị trường sản phẩm nông nghiệp ở mức độ nội địa và toàn cầu. Những cơ chế hỗ trợ làm biến dạng thị trường nhất là bảo hộ giá gạo trực tiếp và bán phá giá lượng sản phẩm thừa trên thị trường thế giới với mức giá có bảo hộ (trợ giá). Vòng đàm phán Uruguay về thương mại nông nghiệp cố gắng chấm dứt những hình thức bảo hộ nông nghiệp làm biến dạng thị trường nông nghiệp nhất, nhưng chỉ đạt được những thành công khiêm tốn. Vòng đàm phán Doha cố gắng thúc đẩy tiến trình này về phía trước nhưng vẫn giậm chân tại chỗ. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu có lẽ sẽ làm trì hoãn vòng đàm phán này thêm nữa.

Hình thức bảo hộ trực tiếp vào thu nhập của nông dân mà ít làm biến dạng thị trường nhất là trả thu nhập trực tiếp cho những nông dân xứng đáng mà không có những liên hệ về giống gạo hay mật độ trồng. Vấn đề, ngay cả với cách tiếp cận này, là những chi trả trực tiếp vào thu nhập của nông dân sẽ ảnh hưởng trực tiếp của quyết định của nông dân về đầu ra. Có nghĩa là có nên duy trì nông trại nữa hay không. Như chúng ta biết, từ chuyển đổi cơ cấu, giải pháp lâu dài duy nhất để tạo bình đẳng thu nhập cho nông dân với những người có thu nhập bên ngoài lĩnh vực nông nghiệp là lối thoát có ý nghĩa nhất cho nông dân đi đến kinh tế thành thị. Làm chậm quy trình này là không hiệu quả và làm biến dạng, dù nếu nó phổ biến giá trị (và có lẽ công bằng, cho dù chuyện này gây nhiều tranh cãi).

TS. Võ Hùng Dũng: Những nước có tiềm lực ngân sách lớn có thể làm như bạn đề cập. Với Việt Nam chúng ta chưa đủ điều kiện để làm như thế, và xét cho cùng là cũng không nên làm. Điều đó không chỉ làm méo mó thị trường mà còn không khuyến khích những người nông dân thích ứng với sự thay đổi. Sự thích ứng với thay đổi trong một môi trường quốc tế cạnh tranh và đầy biến động là một tố chất quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia trong tương lai.

Hỗ trợ nông dân hợp lý là tăng cường kiến thức cho họ, giảm nhẹ khó khăn cho họ bằng cách tăng cường mạng lưới an sinh ở khu vực nông thôn. Việc tăng cường đầu tư thêm cho hệ thống hạ tầng, đường giao thông, trường học, cơ sở y tế, mạng lưới thông tin, iternet ở nông thôn là giúp cho họ tăng cường năng lực kinh doanh, khả năng thích ứng với thay đổi.

Xin hỏi TS Dũng, các doanh nghiệp Việt Nam dựa vào kênh thông tin nào để biết xu hướng giá cả và làm cách nào để đạt được những hợp đồng có giá trị cao mà không bị “hớ”?(Thanh Phúc, Q.5, TP.HCM)

TS. Võ Hùng Dũng: Các công ty kinh doanh lúa gạo thường tham khảo giá từ các bản tin từ hãng Reuters và cũng tham khảo thêm các bản tin của bộ nông nghiệp Mỹ, FAO và viện lúa quốc tế IRRI. Trung tâm thông tin của viện Nghiên cứu chính sách nông nghiệp (bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) trong nỗ lực mới nhất sẽ cung cấp tin tức thị trường và phân tích xu hướng thay đổi, bao gồm giá quốc tế và giá trong nước. Bạn cũng phải thường xuyên theo dõi thêm các số liệu của bộ Nông nghiệp về tình hình sản xuất và cung cầu trong nước để quyết định trạng thái kinh doanh của mình. Bạn cũng nên lưu ý đến các hội nghị quốc tế về lúa gạo. Tháng 3 này sẽ có hội nghị phân tích thị trường gạo ở VN được tổ chức tại TP.HCM, bạn nên đến tham dự.

Bạn cũng phải lập hồ sơ dữ liệu cho mình và thường xuyên phân tích. Việc để có được những hợp đồng giá trị cao, không bị hớ là thuộc bản lĩnh kinh doanh, nhiều thông tin tham khảo và năng lực phân tích của bộ máy để tránh được cú "hớ " chết người.

Chào ông Timmer! Với một quốc gia có hơn 80 triệu dân thì vấn đề an ninh lương thực sẽ như thế nào? Giả định khi thị trường tăng giá gạo, bài toán nào cho Việt Nam giữa vấn đề tích lũy và bán hàng trên thị trường (thuthuy)

Giáo sư C. Peter Timmer: Food security has three dimensions: at the global level, is there enough food for the world's growing population, at the national level, can the country produce enough staple foods (rice) for its own people, and at the household level, can everyone, including the poor, get access to adequate food supplies for their nutritional needs?

The three levels are connected in a large country such as Vietnam. Many poor households produce rice and depend on the market price for their income.  At the same time, many poor households must buy most of their rice from the market, and thus depend on low rice prices to have enough to eat.  And the country depends on the world market to earn foreign exchange and provide income to farmers, but is vulnerable to price changes in the world market.

The solution for Vietnam to ensure its own food security is to recognize the linkages across these three levels and to be prepared for the inevitable instability in the world rice market.  This requires that safety nets for the rice-deficit poor households (especially quick-dispersing cash transfers) be available for rapid scaling up when rice prices shoot up.  At the same time, the rice surplus farmers need access to these higher prices to support their incomes (and to build up savings when rice prices are low), so cutting off the country from the world market is a mistake.

Vietnam's diverse regional production patterns complicate the food security problem. Having enough rice to eat is not so difficult in the Mekong River Delta or Red River Delta regions, but households in mountainous areas have much more difficulty accessing rice as their staple food. Part of the problem is poverty, not rice availability, and new sources of income are needed in these areas.  But part of the problem is the high cost and inefficiency of domestic rice marketing, and improved infrastructure and better government policies on rice storage and trade could also improve food security in the mountainous regions.

Long-run food security, of course, is not determined by rice prices but by the level of real incomes for poor households.  Most of these households still depend on farm production or rural wages for their incomes, so the future success of food security in Vietnam depends on investment in agriculture and the rural economy.

Vấn đề an ninh lương thực có 3 giá trị. Ở mức độ toàn cầu, có đủ lương thực để đáp ứng cho dân số đang tăng hay không là một giá trị. Ở mức độ quốc gia, có sản xuất đủ lương thực cho người dân nước đó hay không. Và ở mức độ hộ gia đình, mỗi người kể cả người nghèo, có đủ lương thực cho nhu cầu dinh dưỡng hay không.

Ba giá trị trên kết nối với nhau trong một đất nước bằng những phương cách sau. Nhiều nông hộ nhỏ sản xuất gạo và phụ thuộc vào giá gạo để có thu nhập. Cùng lúc đó nhiều hộ gia đình nghèo phải mua gạo từ thị trường do đó họ phụ thuộc vào giá gạo thấp để có lương thực tiêu dùng. Còn quốc gia đó phụ thuộc vào thị trường thế giới để có ngoại tệ và cung cấp cho nông hộ, nhưng lại rất dễ bị tổn thương khi giá trên thị trường thế giới thay đổi.

Giải pháp để Việt Nam bảo đảm được an ninh lương thực cho chính mình là nhận ra mối quan hệ qua lại giữa 3 giá trị đó và chuẩn bị cho những bất ổn không thể tránh khỏi trên thị trường gạo thế giới. Điều này đòi hỏi phải có cách bảo vệ cho những hộ nghèo bị thiếu hụt gạo (vì thiếu tiền mặt) khi giá gạo tăng vọt. Cùng lúc đó, những nông hộ thừa gạo cần phải tiếp cận với giá cao để tăng thu nhập (tăng tiết kiệm dự phòng cho những lúc giá gạo rớt xuống thấp). Vì thế tách rời thị trường thế giới là sai lầm.

Mô hình sản xuất khác biệt giữa các vùng ở Việt Nam sẽ làm phức tạp vấn đề an ninh lương thực. Có đủ gạo để ăn là vấn đề không khó khăn lắm đối với đồng bằng sông Mê Kong hay đồng bằng sông Hồng, nhưng những hộ gia đình ở vùng miền núi gặp rất nhiều khó khăn: nghèo, gạo không có sẵn. Cần xây dựng chính sách tốt hơn về tồn trữ và mua bán gạo cũng là cách gia tăng an ninh lương thực bền vững.

An ninh lương thực lâu dài đương nhiên không phải do giá gạo quyết định mà do thu nhập thật sự của những hộ nghèo quyết định. Đa số những hộ này vẫn phụ thuộc vào giá trị sản xuất nông hộ. Vì thế tương lai thành công của an ninh lương thực Việt Nam phụ thuộc vào đầu tư nông nghiệp và kinh tế nông thôn.

Gạo không phải là sản phẩm thương mại thuần tuý, nó còn mang ý nghĩa chính trị (an ninh lương thực quốc gia, đảm bảo công ăn việc làm và đời sống bộ phận dân cư (nông dân) rất lớn ở nhiều quốc gia). Vậy đâu là sự khác biệt/ hay tiếp thị (xúc tiến) xuất khẩu sản phẩm này có nét đặc bịệt gì so các sản phẩm thương mại thuần tuý khác? Ở tầm quốc gia? Ở tầm doanh nghiệp? (Nguyễn Văn Ngữ)

Giáo sư C. Peter Timmer: Rice is known world-wide as a "political" commodity.  That means that the entire rice economy is subject to extensive government policies and regulations, from the input level (fertilizers, water, etc) to farm level (regulation of ownership and access by small farmers to modern technology), through marketing in domestic and export markets.  Political interventions are often not efficient from an economic perspective, and this difference creates serious tensions at the farm level.  Why should rice farmers have their export markets restricted when coffee farmers do not? How should farmers respond? One obvious answer is to diversify into non-rice commodities such as shrimp, fish, coffee, or other higher-valued products.  The difficulty with this farmer response is that rice production may not keep up with rice consumption, thus threatening food security. Thus the government needs to find a "scientific" policy toward rice that removes the political dimensions and focuses on the country's long-run food security and international competitiveness.  I think this "scientific" rice policy is being discussed at high government levels already.

Gạo được biết đến trên thế giới như là món hàng chính trị. Điều đó có nghĩa là toàn bộ nền kinh tế gạo là chủ thể của các chính sách và luật lệ của chính phủ, từ mức độ đầu vào (phân, nước...) đến mức độ nông trại (sở hữu và sử dụng của nông trại nhỏ đến công nghệ hiện đại), thông qua marketing trong thị trường nội địa và xuất khẩu. Sự can thiệp chính trị thường không hiệu quả đứng dưới góc độ kinh tế, và sự khác biệt này tạo ra những căng thẳng trầm trọng ở mức độ nông hộ. Tại sao nông dân lại có thị trường xuất khẩu gạo hạn chế, trong khi người trồng cà phê thì không? Nông dân xuất khẩu gạo phải phản ứng như thế nào? Một câu trả lời hiển nhiên là đa dạng hoá những mặt hàng không phải là gạo, ví dụ như tôm, cá, cà phê hoặc những mặt hàng có giá trị cao hơn. Khó khăn đối với phản ứng này là sản xuất gạo có thể không theo kịp nhu cầu tiêu thụ gạo, vì thế đe doạ an ninh lương thực. Vì thế Nhà nước cần phải tìm ra những chính sách khoa học hướng về thị trường gạo, làm sao để xoá bỏ những khuynh hướng chính trị khác nhau và tập trung vào an ninh lương thực lâu dài của đất nước và lợi thế cạnh tranh quốc tế. Tôi nghĩ chính sách gạo "khoa học" này đang được các cấp chính phủ bàn thảo.

TS. Võ Hùng Dũng: Gạo không phải là sản phẩm thương mại hàng hoá đơn thuần. Tuy vậy, cũng không nên quá nhấn mạnh những tính chất đặc thù của nó để tạo nên những sự can thiệp quá sâu của Chính phủ vào công việc kinh doanh, dễ làm méo mó thị trường. Sự can thiệp của Chính phủ có thể bắt nguồn từ lý do an ninh lương thực. Sự can thiệp quá sâu của hiệp hội xuất khẩu có thể bắt nguồn từ từ lý do các công ty kinh doanh không đủ năng lực kinh doanh thường bán giá thấp, gây thiệt hại cho đất nước. Tuy nhiên việc can thiệp sâu như vậy có thể làm cho người nông dân bị bất lợi về giá, bởi Chính phủ luôn cân nhắc đến tình trạng lạm phát không để cho lúa gạo tăng được. Các công ty xuất khẩu yếu kém lại không bị đào thải bởi cơ chế bảo hộ giá. Rút cuộc, các rủi ro lẽ ra phân tán ở các công ty lại đổ dồn lên cấp vĩ mô và thiệt hại có thể còn lớn hơn. Khi người nông dân thấy giá cả bất lợi, họ sẽ không quan tâm xuất khẩu và do vậy sản lượng sẽ giảm, điều này đã xảy trong khoảng thời gian từ 2000 - 2006.

Xuất khẩu gạo có đặc điểm khác với các hàng hoá khác, do tính thời vụ thường tập trung vào mùa khô nên các dịch vụ về vận tải, bốc xếp cũng thường gia tăng trong thời điểm này. Gạo là loại hàng hoá xuất khẩu thô, yêu cầu về bao bì cũng đơn giản. Về xúc tiến gạo ở cấp quốc gia, trước nhất là sự ổn định về chính sách, với các công ty là năng lực giao hàng đúng hạn, thực hiện đúng hợp đồng đã cam kết. Hiện nay, gạo VN xuất khẩu đến hơn 100 thị trường nhưng chủ yếu là ở châu Á. Còn thị trường châu Phi, VN chỉ xuất qua các trung gian khác vì VN chưa có điều kiện tiếp cận với thị trường này cũng như còn nhiều khó khăn trong việc thanh toán. Cần có sự hỗ trợ của Chính phủ trong mối quan hệ với các quốc gia của lục địa này.

Trong bối cảnh suy thoái kinh tế, các nước dùng nhiều hình thức bảo hộ nông sản trong nước. Có hình thức bảo hộ “bất khả kháng” nào được chấp nhận và hình thức nào bị xem là đi ngược xu hướng toàn cầu hóa? Có thể cho biết cách bảo hộ nào là hình thức bảo hộ mới, được thế giới tạm chấp nhận? (Trần Đức Toàn)

Giáo sư C. Peter Timmer: This is an extremely important, but difficult question.  In a crisis (and we are certainly in a crisis in both commodity and financial markets), what restrictions on trade--what protectionist measures--are acceptable by the global economic community and by the WTO? One thing we learned at the peak of the rice crisis was that the United States was willing to waive "minimum market access" commitments (by Japan for rice imports from the world market), in order to cope with high rice prices, which were threatening other dimensions of US interests, especially availability of food aid and the fight against global poverty. Thus there is clear precedent for "waiving the rules" of trade when circumstances justify such action.

At the same time, the global economic community is rightly concerned about a return to trade protectionism in the US and Europe as these countries try to fight a serious economic recession, even a depression. There are two questions: is this protection "justified" by the circumstances and by WTO rules (escape clauses), and will they have the desired effect? The answer to the first question is probably "yes," but that is highly qualified.  The US, for example, has promised that its stimulus bill "will meet our WTO commitments," but these commitments have many mechanisms in the short run for emergency actions.

The answer to the second question is almost certainly "no." There is a very big difference between a country developing an industrialization policy to encourage long-run investment in its modern manufacturing sector (and even here the historical experience is quite mixed), and rich countries throwing up trade barriers to protect established, even declining, manufacturing sectors. Industrial protection in rich countries is always politically motivated and benefits only small segments of an economy, with large losses, and lack of competitiveness, for the rest of the economy.

Đây là một câu hỏi tối quan trọng nhưng rất khó. Trong một cuộc khủng hoảng (và chúng ta đang chắc chắn ở trong cuộc khủng hoảng cả về hàng hoá lẫn tài chính), những biện pháp hạn chế thương mại – những biện pháp bảo hộ nào – có thể được cộng đồng kinh tế toàn cầu và WTO chấp nhận? Có một điều chúng ta học được từ đỉnh điểm cuộc khủng hpoảng gạo là nước Mỹ sẵn sàng trì hoãn giao ước “thâm nhập thị trường gạo tối thiểu” (do Nhật Bản thiết lập đối với gạo nhập khẩu từ thị trường thế giới), để đối phó với tình trạng giá gạo tăng cao có thể đe doạ đến lợi ích khác của Mỹ, đặc biệt là khả năng sẵn sàng viện trợ lương thực và chiến đấu chống lại đói nghèo toàn cầu. Vì thế có một tiền lệ rõ ràng về việc trì hoãn áp dụng các điều luật thương mại trong một số tình huống bắt buộc.

Cũng trong lúc này, cộng đồng kinh tế toàn cầu quan tâm một cách chính đáng đến sự trở lại của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch ở Mỹ và châu Âu, khi những quốc gia này đang đối phó với sự suy thoái trầm trọng, nếu không muốn nói là đại khủng hoảng. Có 2 câu hỏi: thứ nhất là tình huống và những điều luật ngoại trừ của WTO có biện minh cho sự bảo hộ hay không? Và thứ hai, liệu bảo hộ có hiệu quả như mong muốn hay không. Trả lời cho câu hỏi thứ nhất có thể là có, nhưng nó phải đáp ứng được những điều kiện rất cao… Ví dụ Mỹ đã hứa trong gói kích thích là sẽ đáp ứng mọi yêu cầu của WTO đối với Mỹ, nhưng những cam kết này có rất nhiều cơ chế trong ngắn hạn dành cho những hành động khẩn cấp.

Câu trả lời cho câu hỏi thứ 2 có lẽ là không. Có sự khác biệt rất lớn giữa một quốc gia đang phát triển với một chính sách công nghiệp hoá để khuyến khích đầu tư dài hạn vào lĩnh vực sản xuất hiện đại (và ngay cả ở đây, kinh nghiệm lịch sử cũng rất là hỗn hợp), và những quốc gia giàu dựng lên các hàng rào thương mại để bảo hộ khu vực sản xuất đã được thiết lập xong, thậm chí là đang xuống dốc. Bảo hộ công nghiệp ở những nước giàu thường có động cơ chính trị và thường có lợi cho một bộ phận nhỏ của nền kinh tế, nhưng mất mát lớn và thiếu tính cạnh tranh cho toàn nền kinh tế.

Cung cầu gạo trên thế giới luôn trong tình trạng không cân đối, vùng này thừa thãi nhưng vùng khác không đủ ăn, và khủng hoảng xuất hiện khi việc dự trữ dưới mức báo động. Nhưng đó là lúc dễ mua bán nhất, cách dự trữ và cách “làm giá” của các nước có nguồn dự trữ lớn như thế nào? Trong điều kiện như Việt Nam, phải làm gì để đủ thực lực dự trữ? (Tiểu My)

TS. Võ Hùng Dũng: Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Do vậy, mỗi khi Việt Nam xuất hay không xuất đều có tác động đến giá cả trên thị trường thế giới. Trong các năm qua, mỗi khi vào vụ đông xuân của Việt Nam, giá lúa gạo trong nước ổn định, giá xuất khẩu không cao nên các nhà kinh doanh lúa gạo Việt Nam cũng thường dự trữ vào mùa này. Tuy nhiên, vẫn còn một ẩn số khác trên thị trường thế giới, vì sau vụ đông xuân ở VN là tới vụ thu hoạch của một số nước khác.  Nếu vụ thu hoạch đó không khả quan thì giá gạo trên thị trường thế giới gia tăng, những người đã dự trữ trong nước sẽ có lợi và ngược lại họ sẽ bị lỗ. Tuy nhiên quy luật thông thường trong các năm qua ở Việt Nam là dự trữ lúa đông xuân vẫn có lợi. Điều này cho thấy tính bấp bênh của kinh doanh lúa gạo rất cao. Nếu chính phủ có chiến lược hỗ trợ cho nông dân dự trữ trong những lúc thu hoạch rộ thì nông dân sẽ được lợi, và giá gạo trên thị trường quốc tế không bị chìm xuống, như vậy sẽ giảm bớt những bất lợi đối với việc xuất khẩu gạo của Việt Nam và sẽ gia tăng lợi ích cho nông dân. Cần có chương trình hỗ trợ cho việc lập những dự trữ ở trong các nông hộ, các công ty xuất khẩu, khắc phục tính thời vụ trên thị trường thế giới thường xuyên gây bất lợi với gạo xuất khẩu của Việt Nam. Chính phủ có thể có những chương trình cho vay đặc biệt đối với các nông hộ lập kho dự trữ nhỏ cho chính họ. Điều này sẽ có lợi cho những người nông dân và họ sẽ là những người bảo quản tích cực nhất đối với số lúa gạo mà họ dự trữ. Chính phủ cũng có thể cho các công ty kinh doanh lúa gạo xây kho dự trữ với những tiêu chuẩn bảo quản tốt. Làm như vậy sẽ tăng năng lực dự trữ của quốc gia.

Các năm 2007- 2008, người ta đã chứng kiến những sai lầm khủng khiếp, của những chuyên gia hàng đầu, trong dự báo giá cả thị trường gạo, dẫn đến những bất ngờ gây thiệt hại lớn trong kinh doanh. Các ông suy nghĩ gì về việc này? Ngành khoa học dự báo thị trường đang có những lỗ hổng gì? (Vũ Quốc Khánh)

Giáo sư C. Peter Timmer: That is a really good question.  As I mentioned in my presentation yesterday, a famous saying (from Yogi Berra) is that "forecasting is very difficult, especially about the future." My own intellectual approach is that no one knows what the future will be, so that forecasting must be viewed as an exercise in thinking through consistent alternatives, depending on what events actually happen.  The rice forecasting community was correct in seeing gradually rice prices in world markets in 2007-2008, but missed entirely the price spike seen in world markets late in 2007 and until May 2008. It is important that we learn from this mistake by understanding what caused the price spike, and why prices collapsed so quickly.  The best answer so far is that many participants in the rice market panicked, and tried to store rice rather than put it into the market.  We saw this behavior around the world from farmers, traders and consumers.  Governments panicked as well, especially India and Vietnam as exporters (placing a ban on exports) and in the Philippines as an importer, which told the international rice market it "would pay any price" for imported rice.  No wonder the world rice market price spiked up!

Is there any way to improve forecasting ability? The answer is no, although better data and more up-to-date analyses of recent trends will keep future forecasts from being so far off the mark as they were in 2007-2008.  It is important to realize that the future is highly uncertain and we cannot control it, or even forecast it, very accurately.

Như tôi đã trình bày hôm qua (17.2) tại buổi toạ đàm do SGTT tổ chức, một câu nói nổi tiếng (của Yogi Berra) rằng: "công việc dự đoán là rất khó khăn, đặc biệt là với tương lai". Với cách tiếp cận tri thức riêng của tôi, không ai biết được cái gì sẽ xảy ra trong tương lai, do đó công tác dự báo, được xem là một bài tập về tư duy, suy nghĩ thông qua những lựa chọn vững vàng phụ thuộc vào những gì đã xảy ra.

Cộng đồng dự đoán thị trường gạo đã đúng khi dự báo giá gạo tăng đều 2007 – 2008 nhưng đã đoán sai giai đoạn giá dầu tăng vọt (từ cuối 2007 đến tháng 5.2008). Điều quan trọng là chúng ta phải học từ những sai lầm đó bằng cách tìm hiểu những gì đã làm cho giá gạo vọt lên rồi rớt nhanh như thế. Câu trả lời tốt nhất cho đến nay là những người tham gia thị trường gạo đã lo sợ nên dự trữ gạo hơn là đưa gạo ra thị trường. Chúng tôi nhìn thấy hành vi này khắp thế giới, từ nông dân đến người kinh doanh gạo và cả người tiêu thụ gạo. Các chính phủ cũng lo sợ, đặc biệt là Ấn Độ và Việt Nam, hai nước xuất khẩu gạo (lúc đó đã áp dụng lệnh cấm xuất khẩu gạo). Philippines là nước nhập khẩu gạo đã nói với thị trường xuất khẩu gạo thế giới rằng, họ sẵn sàng trả bất cứ giá nào để nhập khẩu gạo. Chẳng trách giá gạo trên thị trường thế giới tăng vọt.

Có cách nào để tăng cường năng lực dự báo hay không? Câu trả lời là không, dù những dữ liệu tốt hơn và những phân tích được cập nhật về những xu hướng gần đây sẽ giúp công tác dự báo trong tương lai không đi quá xa như những diễn biến thực tế trong năm 2007 - 2008. Quan trọng phải biết là tương lai vô cùng bất ổn, và chúng ta không thể kiểm soát nó cũng như không thể dự đoán chính xác.

TS. Võ Hùng Dũng:  Không có dự báo nào chính xác. Ngay cả  những dự báo về giá dầu có lúc đến 200USD/thùng trong năm 2008 nhưng cuối năm chỉ còn 35USD. Dự báo là những thông tin phân tích do các chuyên gia đưa ra, còn việc sử dụng nó như thế nào là do những cơ quan điều hành và những người sử dụng thông tin quyết định. Dự báo sai thì tất nhiên cũng có những ảnh hưởng lớn và năm qua là một minh chứng. Vấn đề mà chúng ta xem xét là vì sao các dự báo yếu kém, hơn nữa ở Việt Nam còn rất thiếu những thông tin phân tích, thông tin dự báo, chất lượng của các dự báo để những nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh có điều kiện tham khảo để quyết định chính xác hơn.  Điều kiện để phân tích các dự báo chính là việc có người biết sử dụng thông tin. Nền kinh tế có yêu cầu cao đối với các thông tin phân tích dự báo. Với nền kinh tế chúng ta hiện nay, những việc như vậy rất thiếu. Tôi xin đề cử một số ví dụ:

1/ Với nông nghiệp thì đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học rất thấp. Trung bình trong khoảng thời gian từ 1997-2002, ngân sách dành cho nghiên cứu trong khoa học nông nghiệp chỉ chiếm 2% trong tổng chi tiêu công trong nông nghiệp. Điều đó cho thấy nền kinh tế chưa coi trọng nghiên cứu khoa học thì chưa thể nói tới có sự quan tâm với các nghiên cứu phân tích dự báo.

2/ Trong nông nghiệp, đa số hộ nông dân quan tâm đến thời tiết mùa màng hơn là những diễn tiến giá cả của thị trường, cho dù họ có quan tâm thì cũng rất thiếu điều kiện tiếp cận các công ty xuất khẩu, sự can thiệp thường xuyên của Chính phủ hoặc của hiệp hội. Cuối cùng ở cấp điều hành là cấp quyết định sử dụng thông tin dự báo và ảnh hưởng đến việc hình thành các cơ quan phân tích về dự báo, chất lượng các dự báo qua việc sử dụng của mình

Việt Nam có một số loại gạo đặc sản. Thí dụ Chợ Đào, Tám Thơm... Liệu có nên phát triển chúng thành những sản phẩm gạo độc đáo riêng để xuất khẩu? Trên thế giới đã có nước nào làm thành công cách này? Theo quý ông, Việt Nam nên xây dựng thương hiệu cho gạo? Nếu có, nên xây dựng thương hiệu chung cho gạo Việt Nam hay tập trung cho thương hiệu của một số doanh nghiệp có thế mạnh trong lĩnh vực này. Xin cảm ơn.(nguyen van hoang)

TS. Võ Hùng Dũng: Theo tôi biết, những loại gạo đặc sản vừa nói số lượng không lớn, điều kiện sản xuất cũng rất khó khăn do yêu cầu thổ nhưỡng. Các năm trước VN cũng sản xuất những loại gạo thơm để xuất khẩu nhưng không khả quan, việc sản xuất các loại giống luá thơm dài ngày ảnh hưởng đến cơ cấu thời vụ và sâu rầy, các chuyên gia nông nghiệp khuyến cáo rằng không nên mở rộng diện tích trồng lúa thơm dài ngày ở ĐBSCL. Những loại lúa đặc sản mà bạn hỏi nhu cầu trong nước hiện nay cũng tăng rất cao và đó cũng là thế mạnh xuất khẩu gạo của VN.

Biến đổi khí hậu sẽ làm thay đổi những vùng ven biển như Việt Nam. Một số ý kiến cho rằng nên chú ý đến cây lương thực có củ. Liệu biến đổi khí hậu sẽ làm thay đổi nhu cầu thực phẩm, thay đổi vai trò lúa gạo trong giao dịch mua bán?(Nguyễn Trương Lê)

TS. Võ Hùng Dũng: Biến đổi khí hậu đang là dự báo, và người ta cho rằng mực nước biển tăng 1 m thì 45% diện tích đất ở ĐBSCL bị ngập. Tuy nhiên đây là dự báo, người ta đang có những dự kiến và kế hoạch để phòng chống, chẳng hạn như thiết lập những hệ thống đê ven biển. Trong trường hợp này thì kinh nghiệm của Hà Lan rất đáng chú ý đối với Việt Nam. Việc thay đổi hệ thống canh tác, thay đổi cây trồng không phải là dễ dàng vì còn liên quan đến thổ nhưỡng, tập quán canh tác, tuy nhiên việc thay đổi cây trồng vẫn có thể xảy ra với ĐBSCL. Những dự báo như thế chưa được đề cập, riêng ý kiến của tôi cho rằng vai trò lúa gạo của ĐBSCL vẫn được giữ. Do vị trí của ĐBSCL trong sản xuất lúa gạo của quốc gia không thể thay thế được, chắc chắn Chính phủ có kế hoạch để đảm bảo duy trì đây là vùng trồng lúa của cả nước. Đây là vấn đề an ninh lương thực quốc gia cực kỳ quan trọng.

Các phân khúc thị trường (gạo phẩm cấp cao cho thương mại thuần tuý, và gạo phẩm cấp thấp theo các chương trình viện trợ - nhập khẩu của chính phủ) sẽ thay đổi như thế nào trong tương lai? Việt Nam sẽ phải thích ứng thế nào trước sự thay đổi này? Ở tầm quốc gia? Tầm doanh nghiệp? (Hoàng Lan)

Giáo sư C. Peter Timmer: The Vietnamese rice market is facing difficult challenges because of changes in both the supply and demand of different qualities of rice.  Rice quality has two dimensions--which variety is being grown, and how well the rice is dried, milled and stored.  Vietnam faces challenges in both directions because the world market increasingly wants high quality milled rice and the domestic market increasingly wants more flavorful varieties for local consumption.  The government needs to respond to these challenges by helping the Vietnamese rice marketing sector become more efficient, especially by encouraging the modernization of rice supply chains.  One impact will be that the domestic rice market will increasingly be linked to the world rice export market, and the government needs policies that encourage this development. Meeting these challenges will open new opportunities to Vietnamese enterprises to participate openly in both domestic and export markets, but they will need to use modern information technology and have access to adequate finance in order to compete with foreign enterprises.

Thị trường gạo Việt Nam đang đối mặt với những thách thức khó khăn về nguồn cung và cầu các loại gạo khác nhau. Chất lượng gạo có hai vấn đề: thứ nhất, loại gạo nào đang được trồng, và thứ hai: khả năng sấy khô, xay xát và tồn trữ tới đâu. Việt Nam phải đối mặt với cả hai vấn đề, bởi vì thị trường thế giới liên tục muốn những loại gạo có chất lượng xay xát cao và thị trường nội địa muốn có thêm nhiều loại gạo hương vị khác nhau. Chính phủ cần phải đáp ứng những thách thức này bằng cách phải giúp đỡ thị trường gạo hiệu quả hơn, đặc biệt khuyến khích hiện đại hoá hệ thống phân phối gạo. Có thực tế là thị trường gạo nội địa không ngừng liên kết với thị trường gạo thế giới, và chính phủ cần khuyến khích sự phát triển này. Nếu chấp nhận thách thức này, sẽ mở ra cơ hội mới cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia mở rộng vào thị trường nội địa và xuất khẩu. Họ phải sử dụng công nghệ thông tin hiện đại và tài chính tương ứng để cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài.

Lúa gạo Việt Nam xuất khẩu giá luôn thấp hơn của Thái Lan (gạo Việt Nam có giá 400 USD/tấn so 700 USD/tấn của Thái Lan), xin hỏi gạo Việt Nam có nên tăng giá bán? Vì thị phần xuất khẩu gạo Việt Nam và Thái Lan chiếm 50% thị trường thế giới (hoangsonsg)

Giáo sư C. Peter Timmer: This is an important question.  Why is the price of rice exported from Thailand higher than the price of rice exported from Vietnam? There are two basic reasons.  First, the quality of Vietnamese rice is usually lower than the quality of Thai rice, both because the varieties are different and because the milling quality in Vietnam is not yet so good.  Second, and most important for the current situation, rice from Vietnam sells at a discount because of the risk of dealing with Vietnamese exporters.  In the world market, Vietnam is not seen as a reliable exporter, and needs to keep its price low to attract customers.

It is difficult to see how Thailand and Vietnam can cooperate in setting the world price because each country has its own, and very different, political priorities.

Tại sao gạo xuất khẩu Thái Lan cao giá hơn gạo của Việt Nam? Có hai lý do cơ bản. Thứ nhất, chất lượng gạo Việt Nam thường thấp hơn gạo Thái Lan, bởi vì không đa dạng và chất lượng xay xát không tốt. Thứ hai, gạo Việt Nam bán giá thấp vì nguy cơ rủi ro trong giao dịch với nhà xuất khẩu Việt Nam. Trên thị trường thế giới, Việt Nam không được xem là nhà xuất khẩu đáng tin cậy nên họ (nhà xuất khẩu Việt Nam) phải giữ giá thấp để thu hút khách hàng.

Thật khó để nói là Việt Nam và Thái Lan có thể hợp tác để “làm giá” trên thế giới, vì mỗi quốc gia có những ưu tiên chính trị riêng và rất khác nhau.

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Theo Sài Gòn tiếp thị
search