Trước hết, tôi không cảm thấy thuyết phục về những lập luận của Ban soạn thảo tại Tờ trình liên quan tới việc mở rộng phạm vi áp dụng của LTM về những vấn đề lớn (ngoại trừ những bổ sung về quy định cụ thể tạo thuận lợi cho thi hành các cam kết quốc tế) vì nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này cũng hoàn toàn đúng với các yêu cầu của WTO khi VN gia nhập.

Tôi hơi ngại về cách hiểu và giải thích theo hướng của Ban soạn thảo vì nó đem lại một vấn đề rất nhạy cảm là chủ quyền quốc gia của nước khi hội nhập kinh tế quốc tế: không có quyền tự quyết định về cách thức thực hiện các nghĩa vụ, cam kết của mình. Ngược lại, một thực tiễn đã được định hình trong WTO là ngay cả đối với cơ quan giải quyết tranh chấp WTO cũng không yêu cầu cụ thể một nước có vi phạm quy định WTO phải huỷ bỏ hay sửa đổi một đạo luật cụ thể liên quan mà chỉ là khuyến nghị nước vi phạm có các biện pháp thích hợp để loại bỏ vi phạm.

Thứ hai, theo nghiên cứu của tôi về vấn đề khó khăn và trục trặc trong công nhận và cho thi hành tại VN các quyết định trọng tài nước ngoài theo Công ước New York 1958 mà VN là thành viên mà đã được Ban soạn thảo dùng để lập luận cho việc mở rộng phạm vi của luật (tôi chỉ nói về trọng tài, có lẽ trong Tờ trình Ban soạn thảo đã có hiểu lầm về các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan tới các bản án của toà án nước ngoài mà được xử lý theo một cơ chế pháp lý khác với trọng tài) không nên đổ lỗi hoàn toàn cho LTM 1997, và với nghiên cứu và giải thích của tôi thì thậm chí luật này không có lỗi gì đối với thực trạng đáng buồn về công nhận và thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài tại VN ( chỉ có 2 trong số 9 yêu cầu Toà án VN công nhận và cho thi hành đã thành công trong gần 10 năm qua). Về mặt pháp lý thì Quyết định ngày 28/7/1995 của Chủ tịch nước (Quyết định số 453/QĐ-CTN) phê chuẩn việc tham gia Công ước NewYork năm 1958 về Công nhận và Thi hành Quyết định của Trọng tài nước ngoàivà để "nội luật hoá" công ước này, ngày 14/9/1995 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh về Công nhận và thi hành tại VN quyết định của Trọng tài nước ngoài. Như vậy, theo Quyết định số 453/Qđ - CTN, VN đưa ra 4 bảo lưu khi tham gia Công ước New York: Trong 4 bảo lưu này, bảo lưu về việc áp dụng Công ước đối với các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ "pháp luật thương mại" theo quy định của pháp luật VN là nội dung được đề cập và thu hút được sự quan tâm nhiều nhất.

Tôi xin thông tin khoảng gần nửa các nước tham gia Công ước New York 1958 có đưa ra bảo lưu tương tự. Cho đến nay, điểm bảo lưu này đã bị nhiều người, trong đó có Ban soạn thảo cho là nguyên nhân làm nảy sinh những khó khăn, vướng mắc trong việc xác định các vụ việc thuộc phạm vi để xem xét công nhận và cho thi hành tại VN các quyết định của Trọng tài nước ngoài, nhất là sau khi LTM được Quốc hội thông qua ngày 10/5/1997 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/1998. Các luật gia bình thường của VN thì đều hiểu khái niệm "pháp luật thương mại" là rộng hơn rất nhiều khái niệm "Luật Thương mại" và bao gồm ngoài LTM ra là tất cả các văn bản quy phạm pháp luật theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có điều chỉnh về thương mại. Việc có tư duy đồng nhất hai khái niệm này của không ít người đã là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những khó khăn trong quá trình công nhận và thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài trong thời gian qua. Có lẽ chính toà án VN cũng đã có cách tiếp cận theo tôi là chưa hợp lý này.

(Còn tiếp)

ThS Nguyễn Khánh Ngọc - Trọng tài viên VIAC