Với nguồn vốn mạnh và khả năng đoàn kết cao, khối nhà đầu tư “ngoại” vẫn thường dẫn dắt được tâm lý của thị trường chứng khoán Việt Nam. Song thời gian gần đây, khả năng dẫn dắt này đã bị hạn chế. Nhà đầu tư “nội” đã cảnh giác hơn trước làn sóng mua vào bán ra của khối đầu tư ngoại.

Thời gian trước, các nhà đầu tư trong nước trên thị trường chứng khoán thường dõi theo động thái của các nhà đầu tư nước ngoài để đưa ra quyết định đầu tư của mình. Năm 2006-2007 chỉ số giá chứng khoán tăng phi mã là do vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam với khối lượng lớn (năm 2004 mới có 13 triệu USD nhưng đến năm 2007 con số này đã lên gấp gần 5 lần, đạt mức 6,5 tỷ USD). Số vốn này chiếm trên một phần ba tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường chứng khoán Việt Nam, trực tiếp làm tăng cầu và tăng giá chứng khoán. Đồng thời, có tác động gián tiếp lôi kéo lượng vốn đầu tư trong nước. Nhưng ở thời điểm này, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn có tới 70% nhà đầu tư cá nhân với kinh nghiệm đầu tư còn ít. Đó là chưa kể phần lớn số vốn đầu tư chứng khoán của nhiều nhà đầu tư là vay từ ngân hàng.

Nếu như chỉ một thời gian ngắn trước đây hoạt động mua bán của nhà đầu tư ngoại vẫn có tác động nhất định tới quyết định của nhà đầu tư trong nước thì hiện nay tình hình lại đã khác. Sự thay đổi này bắt đầu rõ nét dần từ đầu năm 2008. Mới đây nhất, trong các phiên ngày 25, 26 và 27/8, các động thái tăng cường bán ra rồi đẩy mạnh mua vào của các nhà đầu tư ngoại hầu như không gây ra tác động nào đến các nhà đầu tư nội. Thậm chí, hoạt động này đôi lúc còn có tác dụng ngược, khiến các nhà đầu tư ngoại khó cạnh tranh trong việc tăng cường nắm giữ cổ phiếu tốt hơn so với các nhà đầu tư nội.

Lý giải điều này, nhiều chuyên gia tư vấn chứng khoán cho rằng: khả năng tranh mua của nhà đầu tư trong nước nói chung và các công ty chứng khoán nói riêng khiến cho khối đầu tư ngoại đã không thể mua được nhiều cổ phiếu trước sức mua quá lớn của nhà đầu tư trong nước. Còn việc bán ra của khối ngoại, thực tế là họ chỉ bán ra những cổ phiếu mà trước đó họ đã mua nhiều với giá rẻ, để hiện thực hóa lợi nhuận hoặc tạo sức ép giảm giá đối với một số cổ phiếu.

Một lý giải khác cho rằng, nhà đầu tư nước ngoài cũng bắt đầu đầu tư theo kiểu “lướt sóng”. Khi thị trường xuống quá thấp, họ đã mua vào với khối lượng lớn và nay được giá cao họ bán ra để chốt lãi và chờ đợi khi giá chứng khoán đảo chiều lại tăng mua vào nhưng không ngờ nhà đầu tư trong nước vẫn đẩy mạnh mua vào nên họ quay đầu mua nhiều hơn bán.

Nhưng không thể phủ nhận rằng, nhà đầu tư trong nước đã có sự “nâng cấp” rất nhiều về tay nghề cũng như là tâm lý đầu tư. Họ đã có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc nắm bắt thông tin của doanh nghiệp của nền kinh tế vĩ mô, nắm bắt được tâm lý chung của nhà đầu tư trong nước tốt hơn nhà đầu tư nước ngoài – đây là yếu tố quan trọng, bởi thực tế, thị trường chứng khoán Việt Nam còn non trẻ, yếu tốt tâm lý vẫn là điểm cốt lõi quyết định bước đi lớn cho thị trường. Những bài học thắng thua trong các lần đầu tư trước đã giúp cho họ dày dặn kinh nghiệm trong việc khi nào thì chốt lãi và khi nào thì cắt lỗ. Trong khi đó, nhà đầu tư nước ngoài bị ràng buộc bởi kế hoạch của Quỹ còn nhà đầu tư trong nước có thể nhìn nhận thực tế rất linh hoạt trong từng phiên, lại luôn so sánh giữa các kênh để đồng vốn của mình tạm trú ngắn và dài hạn ở đâu và đã biết đánh theo xu hướng. Với những chuyển biến tích cực, trong thời gian sắp tới, các nhà đầu tư trong nước sẽ là lực lượng chủ chốt có tính chất “dẫn dắt” thị trường chứng khoán Việt Nam.

Nam Phương tổng hợp