Công nghiệp phụ trợ giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế cũng như nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm Việt Nam trên thị trường. DĐDN xin trích đăng bài viết của ông Mitsuo Sakaba – Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam về vấn đề phát triển ngành công nghiệp Việt Nam trong thời gian tới.
Ông Mitsuo Sakaba viết:
1 tháng trước khi tới Việt Nam nhậm chức Đại sứ, tôi đã chú ý tìm hiểu kỹ về tình hình kinh tế hiện nay của Việt Nam và quan hệ kinh tế giữa hai nước Nhật Bản và Việt Nam. Đến bây giờ, tôi vẫn cảm thấy rất nhớ kỷ niệm vừa ăn trưa tại một quán ăn nhỏ trong thành phố Tokyo vừa thảo luận về chính sách công nghiệp của Việt Nam cùng với ông Ono Kenichi (Chủ tịch ủy ban Chấp hành Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF) – PV DĐDN). Đặc biệt, ý kiến trao đổi xung quanh việc làm thế nào để nền công nghiệp của Việt Nam vừa có đủ năng lực cạnh tranh tồn tại trong nền kinh tế châu Á có tốc độ toàn cầu hóa nhanh, vừa có thể duy trì được môi trường kinh doanh thuận lợi cho các ngành sản xuất của Nhật Bản đang hoạt động tại Việt Nam, đã gợi mở ý tưởng quan trọng về việc tôi phải làm gì với tư cách là đại sứ mới nhậm chức. Việc Việt Nam cam kết hội nhập khu vực tự do thương mại ASEAN (AFTA) và gia nhập WTO đã làm gia tăng mạnh mẽ khả năng phát triển kinh tế của Việt Nam. Không còn nghi ngờ về điều này. Mặt khác, trong quan hệ với Nhật Bản, nếu nhanh chóng ký kết Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Nhật Bản – ASEAN (AJCEF) và Hiệp định đối tác kinh tế song phương (EPA) thì quan hệ thương mại đầu tư giữa hai nước sẽ càng phát triển mạnh hơn nữa. Các thể chế mang tính pháp lý này là thứ không thể thiếu, tức là “điều kiện cần thiết”, để Việt Nam củng cố bền vững vị trí là một thành viên quan trọng của nền kinh tế thế giới. Vậy thì, “điều kiện đủ” là gì? Tôi nghĩ rằng đó là củng cố nền tảng sản xuất cơ bản của Việt Nam, và các sản phẩm sản xuất ra đủ năng lực cạnh tranh về chất lượng và giá thành so với các sản phẩm của nước khác. Điều này là thách thức lớn nhất với các ngành công nghiệp Việt Nam. Tôi đã nghĩ như thế trước khi tới nhậm chức ở Việt Nam.
Tôi tới nhậm chức cuối tháng 2 (ông Mitsuo Sakaba nhậm chức tại Việt Nam ngày 29/2/2008 – PV DĐDN), và hầu như liên tục hàng ngày tôi đã trao đổi với nhiều người liên quan trong lĩnh vực kinh tế. Tình hình kinh tế Việt Nam có mặt tốt hơn và cũng có mặt nghiêm trọng hơn so với tưởng tượng của tôi trước khi sang nhậm chức. Mặt tốt là sự ổn định về an ninh chính trị, đức tính cần cù của người dân Việt Nam và vị trí địa lý thuận lợi nằm ở trung tâm Đông nam Châu Á. Giá nhân công rẻ đúng là một sức hấp dẫn lớn ở thời điểm này, tuy nhiên tôi nghĩ rằng điều này sẽ không kéo dài. Kinh tế phát triển nhưng giá nhân công không thể rẻ mãi. Bên cạnh đó, cũng có lo lắng vì lạm phát cao, tuy nhiên tình trạng này sẽ dần ổn định nhờ cắt giảm chi tiêu và hạn chế cho vay tiền tệ trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, về lâu dài, đương nhiên đẩy mạnh sản xuất là biện pháp giảm lạm phát tốt nhất. Tùy vào sự phát triển kinh tế quốc tế sắp tới, khó dự đoán được các tác nhân bên ngoài của lạm phát như sự tăng giá năng lượng quốc tế và giá thực phẩm, nguyên liêu thô. Tuy nhiên, về mặt lâu dài chỉ có cách khắc phục bằng các chính sách kinh tế và công nghiệp làm giảm ảnh hưởng do tác nhân bên ngoài.
Điều tôi lo lắng là ở vấn đề khác. Đó là vấn đề: sự chậm trễ về cải thiện cơ sở hạ tầng, thiếu nguồn lao động có tay nghề cao, sự chậm trễ trong việc phát triển ngành công nghiệp phụ trợ. Đương nhiên không cần tôi phải nhắc tới thì các vị lãnh đạo của chính phủ Việt Nam cũng hiểu rõ và đang có các biện pháp giải quyết. Đặc biệt, chính phủ Việt Nam đang cố gắng phân phối ngân sách trong lĩnh vực cải thiện cơ sở hạ tầng và đạo tạo nguồn lực lao động tay nghề cao, đồng thời, các nước viện trợ cũng đang tăng cường hỗ trợ ODA. Trong tình hình này, chính cách khó khăn nhất có lẽ là việc phát triển công nghiệp phụ trợ. Đúng là Quy hoạch tổng thể và đã được phê duyệt tháng 7 năm ngoái. Tuy nhiên, kế hoạch hành động cụ thể như ai, làm khi nào, làm cái gì để triển khai Quy hoạch tổng thể này thì chưa có. Điều này có lý do rõ ràng vì tại thời điểm đó, chưa có sự nhận thức rằng vấn đề công nghiệp phụ trợ là vấn đề cấp bách và vì nội dung chính sách dàn trải trên nhiều phương diện nên không có riêng một cơ quan bộ ngành nào đảm nhiệm. Hậu quả của việc chậm phát triển ngành công nghiệp phụ trợ sẽ thấy rõ trong vòng 5,10 năm sau. Do cam kết trong khu vực thương mại ASEAN (AFTA), 10 năm sau, sẽ miễn thuế nhập khẩu hầu như toàn bộ các sản phẩm nhập từ các nước ASEAN. Tức là, 5 năm sau, nhiều ngành sản xuất hoạt động tại Việt Nam, không phân biệt của nước nào, sẽ buộc phải lựa chịn chiến lượng doanh nghiệp tiếp tục sản xuất trong nước Việt Nam hay nhập khẩu và bán các sản phẩm đã sản xuất tại các nước ASEAN khác. Tiêu chí để quyết định khi đó sẽ là làm sao có thể tạo ra được “sản phẩm rẻ và tốt” có đủ năng lực cạnh tranh quốc tế tại Việt Nam hay không? “Sản phẩm rẻ những chất lượng kém”, “sản phẩm tốt nhưng giá thành cao” sẽ bị thị trường đào thải. Việc tạo ra các sản phẩm giá thành rẻ có lẽ không khó đến vậy trong trường hợp của Việt Nam. Vì hiện nay, tôi nghĩ rằng tình trạng mức lương của người lao động tương đối thấp vẫn kéo dài và cũng có khả năng thực hiện các biện pháp ưu đãi về mặt chính sách thuế trong nước như miễn giảm thuế doanh nghiệp. Tuy nhiên, không thể một sáng một chiều là có thể tạo ra được những sản phẩm chất lượng cao. Vì như tôi đã trình bày ở trên, cần phải đào tạo một lược lượng lao động có tay nghề cao và xây dựng một ngành công nghiệp phụ trợ có thể tạo ra các linh kiện chất lượng tốt. Theo kinh nghiệm của nước láng giềng Thái Lan, phải mất từ 15 đến 20 năm để tạo ra một ngành công nghiệp phụ trợ lớn mạnh. Vậy thì chúng tai phải làm gì?
Tôi nghĩ rằng, trong ngắn hạn, cần tạo ra môi trường có thể sản xuất ra những sản phẩm chất lượng tốt giảm được giá thành sản xuất cho doanh nghiệp bằng cách thu hút công nghiệp sản xuất linh kiên, nguyên vật liệu chất lượng tốt của nước ngoài và quyết tâm giảm thuế nhập khẩu đối với những linh kiện và nguyên vật liệu không sản xuất được trong nước. Song song với việc này, tôi cho rằng sẽ là hợp lý nếu làm rõ ở tầm trung và dài hạn các ngành sản xuất linh kiện và nguyên vật liệu cần ưu tiên phát triển tại Việt Nam, và đầu tư ngân sách vào đó một cách tập trung và theo từng giai đoạn. Có thể nói rằng, việc đào tạo nguồn nhân lực cũng giống như vậy. Việc đào tạo nhân lực dàn trải trên mọi lĩnh vực cũng như phát triển sản xuất tất cả mọi linh kiện và nguyên vật liệu không chỉ dẫn tới sự dụng lãng phí lớn về thời gian và tài nguyên mà còn là một việc không thể làm được nếu xét từ góc độ “nền kinh tế quy mô”. Tôi cho rằng, cách tiếp cận “chọn lựa và tập trung” này sẽ trở thành vấn đề cốt lõi trên cơ sở nghiêm cứu kế hoạch hành động để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam, vì vậy, tôi mong rằng sẽ nhận được những ý kiến đóng góp sâu sắc của các chuyên gia hai nước Việt Nam – Nhật Bản và các vị lãnh đạo của chính phủ Việt Nam.
Hiện nay, Nhật Bản và Việt Nam đang tiến hành xây dựng kế hoạch hành động giai đoạn 3 của Sáng kiến chung và việc đàm phán ký kết Hiệp định đối tác kinh tế song phương (EPA) cũng đang đi tới những bước cuối. Năm 2008 chắc hẳn sẽ là một năm ghi nhận bước phát triển nhảy vọt của mối quan hệ kinh tế giữa hai nước Việt Nam – Nhật Bản. Thức tế cho thấy kim ngạch xuất nhập khẩu đã đạt được mục tiêu đề ra cho năm 2010 là 15 tỷ USD trước 2 năm, đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản ở mức đăng ký cũng đã đạt được con số cao nhất từ trước đến nay. Ngoài ra, năm 2008 này cũng là năm kỷ niệm 35 năm thiết lập quân hệ ngoại giao Nhật Bản – Việt Nam.