Công ước Paris là một trong những công ước quan trọng nhất và sớm nhất về bảo hộ sở hữu công nghiệp. Theo đó, mỗi nước thành viên của công ước phải bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho công dân của các nước thành viên khác như bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho chính công dân nước mình.
Được hưởng quyền ưu tiên
Chủ thể nộp đơn được hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở một đơn chính thức xin bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đã được nộp ở một nước thành viên của công ước trong thời hạn nhất định sau ngày nộp đơn đầu tiên (12 tháng đối với sáng chế, 6 tháng đối với nhãn hiệu hàng hoá và kiểu dáng công nghiệp). người đó có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ ở bất kỳ nước thành viên nào và những đơn nộp sau được coi như có ngày nộp đơn cùng với ngày nộp đơn của đơn đầu tiên. Quyền ưu tiên cũng có thể được áp dụng cho người kế thừa quyền của người nộp đơn đầu tiên. Quyền ưu tiên cũng có thể được chuyển giao cho người kế thừa không đồng thời với việc chuyển giao đơn đầu tiên.
Việt Nam trở thành thành viên của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp kể từ ngày 8/3/1949. |
Công ước cũng quy định, quyền ưu tiên chỉ có thể dựa trên đơn đầu tiên đối với cùng một đối tượng sở hữu công nghiệp đã được nộp tại một quốc gia thành viên. Điều đó có nghĩa là không thể căn cứ vào đơn thứ hai để xin hưởng quyền ưu tiên. Đơn sau phải đề cập cùng một đối tượng như đơn đầu tiên. Công ước cho phép người hưởng quyền ưu tiên "ưu tiên nhiều phần" và "ưu tiên từng phần". Xác lập quyền đối với sáng chế
Sáng chế được bảo hộ tại các quốc gia thành viên công ước sẽ độc lập với nhau. Việc bảo hộ một sáng chế tại một quốc gia thành viên công ước không buộc các quốc gia thành viên khác phải bảo hộ sáng chế này; một sáng chế không thể bị từ chối, bị hủy bỏ hoặc chấm dứt hiệu lực tại bất cứ quốc gia thành viên công ước nào chỉ dựa trên lý do rằng sáng chế này đã bị từ chối, huỷ bỏ hoặc chấm dứt hiệu lực tại quốc gia thành viên công ước khác. Công ước có quy định về giai đoạn ân hạn đối với việc thanh toán phí duy trì hiệu lực quyền sở hữu công nghiệp và việc phục hồi bằng độc quyền sáng chế trong trường hợp không thanh toán phí. Quốc gia thành viên có thể quy định việc cấp licence không tự nguyện nhằm ngăn chặn việc lạm dụng đặc quyền của người được cấp sáng chế trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không hiệu quả quyền của mình. Tuy nhiên, chỉ có thể làm điều này trong một số giới hạn nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định. licence bắt buộc phải là một licence không độc quyền và chỉ có thể được chuyển giao cùng với một phần của DN được lợi từ licence bắt buộc đó.
Tại hầu hết các quốc gia việc duy trì hiệu lực một số quyền sở hữu công nghiệp nhất định, chủ yếu là những quyền đối với sáng chế và nhãn hiệu phụ thuộc vào thời gian thanh toán phí. Đối với bằng độc quyền sáng chế, phí duy trì hiệu lực thường phải trả hàng năm. Việc quy định bằng độc quyền sáng chế mất hiệu lực ngay nếu phí duy trì hiệu lực hàng năm không được trả đúng hạn sẽ là một chế tài quá khắt khe. Vì vậy, Công ước Paris đã quy định chủ văn bằng có một giai đoạn ân hạn là 6 tháng để thanh toán phí duy trì hiệu lực bằng độc quyền sáng chế sau khi đã hết hạn. Thời hạn này là thời hạn tối thiểu, để các nước được tuỳ ý quy định cho phép một thời hạn dài hơn. Trong suốt giai đoạn ân hạn, bằng độc quyền sáng chế tạm thời vẫn còn hiệu lực. Nếu không thanh toán phí trong giai đoạn ân hạn, bằng độc quyền sáng chế sẽ mất hiệu lực tuyệt đối, nghĩa là, kể từ ngày đến hạn trả phí hàng năm.
Hoàng Dũng