Thứ Năm, 29/04/2010 - 06:03

Đại hội đồng cổ đông bất thường : Ai có quyền triệu tập ?

Thời điểm này đang là “mùa” đại hội đồng cổ đông của các Cty đại chúng. Tuy vậy, ĐHCĐ cũng gặp nhiều tranh chấp.

Theo Luật DN, đại hội đồng cổ đông mỗi năm phải họp ít nhất một lần
(ảnh chỉ có tính minh họa)

Cty cổ phần Bạch Đằng (Cty Bạch Đằng) thành lập từ tháng 10/2004 trên cơ sở cổ phần hoá (CPH) một bộ phận của Cty nhà nước, vốn điều lệ 8,92 tỷ đồng, chia thành 89.200 cổ phần mệnh giá 100.000 đồng, 67 cổ đông sáng lập.

Diễn biến sự việc

Ngày 23/10/2004, ĐHĐCĐ thành lập, bầu ra HĐQT 5 người gồm ông Phúc, ông Lâm và các bà Phương, Hiền, Oanh. Các thành viên HĐQT đều là cổ đông sáng lập của Cty.

Ngày 2/11/2004, ông Phúc – Chủ tịch HĐQT đã đứng ra bán 17.602 cổ phần, bán cho người ngoài DN là ông Cường với giá hơn 3,363 tỷ đồng. Bà Hiền, kế toán trưởng cũng đã chuyển nhượng 1.000 cổ phần trong tổng số 1.353 cổ phần của mình cho người khác. Việc mua bán cổ phần này bị các cổ đông phát giác và đề nghị tổ chức đại hội cổ đông thường niên. Tuy nhiên, ông Phúc, Chủ tịch, và một số thành viên HĐQT Cty Bạch Đằng đã không tiến hành đại hội theo quy định của Luật DN. Theo điều 16, khoản 2 điều lệ Cty, ĐHCĐ thường niên do chủ tịch HĐQT triệu tập vào quý I hàng năm, nhưng đến hết quý II/2005, ông Phúc vẫn không triệu tập.

Ngày 4/5/2005, nhóm cổ đông nắm giữ 52,41% cổ phần liên tục sáu tháng đã gửi đơn đề nghị HĐQT triệu tập Đại hội cổ đông bất thường. Ngày 13/5/2005, HĐQT do bà Phó Chủ tịch HĐQT đại diện đã có thông báo không triệu tập họp ĐHĐCĐ. Ngày 17/6/2005, nhóm cổ đông nắm giữ 52,41% cổ phần đã đứng ra triệu tập Đại hội cổ đông bất thường vào ngày 2/7/2005.

Tại đại hội, các cổ đông tham dự đã bỏ phiếu bãi miễn 3 thành viên HĐQT, trong đó có ông Phúc, bà Hiền. Do đó, ông Quang – Chủ tịch HĐQT (mới) – đồng thời là cổ đông trong nhóm cổ đông 53,04% (nhóm cổ đông đã tham dự cuộc họp ngày 2/7/2005), đã kiện ra toà án yêu cầu: Công nhận kết quả Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 2/7/2005 là hợp pháp. Buộc các thành viên HĐQT bị bãi miễn, các thành viên Giám đốc điều hành bị bãi miễn phải bàn giao quyền, nghĩa vụ quản trị, điều hành, kiểm soát Cty cho HĐQT, GĐ mới.

Tuy vậy, bên bị kiện lại đề nghị hủy bỏ toàn bộ nội dung ĐHĐCĐ bất thường ngày 2/7/2005 vì cho rằng đây là hoạt động bất hợp pháp.

Bài học cho các DN

Để giải quyết tranh chấp này, đầu tiên phải xác định, việc chuyển nhượng cổ phần của hai thành viên HĐQT là ông Phúc và bà Hiền có hợp pháp hay không? Về việc chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập, Điều 58 Luật DN 1999 quy định “1. Trong ba năm đầu, kể từ ngày Cty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% số cổ phần phổ thông được quyền chào bán; cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập có thể chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông nếu được sự chấp thuận của ĐHĐCĐ. Cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó. 2. Sau thời hạn ba năm quy định tại khoản 1 Điều này, các hạn chế đối với CP phổ thông của cổ đông sáng lập đều bãi bỏ”. Như vậy, việc chuyển nhượng cổ phần của ông Phúc và bà Hiền là không hợp pháp.

Về trình tự, và thẩm quyền triệu tập ĐHĐCĐ, Điều 71 Luật DN 1999 quy định:“...2. ĐHĐCĐ được triệu tập họp: a) Theo quyết định của Hội đồng quản trị; b)  Theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luật này hoặc của Ban kiểm soát trong trường hợp HĐQT vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của người quản lý quy định tại Điều 86 của Luật này, HĐQT ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao, các trường hợp khác quy định tại Điều lệ Cty. 3. HĐQT phải triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu quy định tại điểm b khoản 2 Điều này. Trường hợp HĐQT không triệu tập thì Ban kiểm soát phải thay thế HĐQT triệu tập họp ĐHĐCĐ theo quy định của Luật này. Trường hợp Ban kiểm soát không triệu tập thì cổ đông, nhóm cổ đông có yêu cầu quy định tại điểm b khoản 2 Điều này có quyền thay thế HĐQT, Ban kiểm soát triệu tập họp ĐHĐCĐ theo quy định của Luật này”.

Như vậy, nhóm cổ đông 52,41% đề nghị HĐQT triệu tập họp ĐHĐCĐ là đúng thẩm quyền. Đến ngày 17/6/2005, việc Nhóm cổ đông 52,41% triệu tập họp ĐHĐCĐ vì đã quá 30 ngày kể từ khi đề nghị HĐQT triệu tập họp (ngày 04/05/2005) nhưng HĐQT không thực hiện, là đúng quy định.

Về lý do yêu cầu triệu tập họp, có căn cứ để cho rằng, HĐQT, cá nhân ông Phúc (chủ tịch) và bà Hiền (thành viên) có vi phạm nghĩa vụ của người quản lý. Với tư cách là Chủ tịch HĐQT nhưng ông này lại chuyển nhượng cổ phần cho người không phải là cổ đông mà không thông qua ĐHĐCĐ là vi phạm Điều 58 Luật DN 1999. Ông Phúc với tư cách là Chủ tịch HĐQT không triệu tập ĐHĐCĐ thường niên năm 2005 là trái với Khoản 1 Điều 71 Luật DN 1999 “ĐHĐCĐ mỗi năm họp ít nhất một lần”. Luật DN 1999 và Điều lệ Cty đều quy định, cuộc họp ĐHĐCĐ là hợp pháp khi có số cổ đông, người đại diện cổ đông đại diện cho ít nhất 51% tổng số phiêu biểu quyết tham dự. Cuộc họp ĐHĐCĐ ngày 2/07/2005 có số cổ đông đại diện cho 53,04% tổng số cổ phần phổ thông tham dự. Như vậy, cuộc họp này đủ điều kiện để tiến hành.

Các quyết định tại cuộc họp ĐHĐCĐ ngày 2/7/2005 về việc bãi miễn thành viên HĐQT, bầu bổ sung thành viên HĐQT, bãi miễn và bầu bổ sung thành viên BKS đã được thông qua với 100% cổ phần của những cổ đông dự họp. Như vậy là thỏa mãn quy định tại điểm a khoản 2 Điều 77 Luật DN “Được số cổ đông đại diện ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận. Tỷ lệ cụ thể do Điều lệ Cty quy định”. Như vậy, cuộc họp ĐHĐCĐ bất thường và các quyết định được thông qua tại cuộc họp là hoàn toàn đúng pháp luật.

Vì thế, tòa án sơ thẩm và phúc thẩm đều quyết định công nhận ĐHĐCĐ bất thường do nhóm cổ đông sở hữu 53,04% vốn điều lệ Cty tổ chức là hợp pháp, hợp lệ; Các quyết định, nghị quyết của ĐHĐCĐ nói trên cũng hợp pháp, hợp lệ và có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
 
Hoài Huấn
search