Chủ Nhật, 25/11/2012 - 07:04

Thỏa thuận điều khoản bất khả kháng

(DĐDN) LTS: Không phải bản hợp đồng nào cũng thể hiện rõ bản chất của điều khoản bất khả kháng. Đơn cử như việc hàng loạt ô tô đắt tiền bị hư hỏng nặng với thiệt hại khoảng 7 tỷ đồng do lũ lụt tại Hà Nội năm 2008, nhưng những người chủ phương tiện trên xem đó là... lỗi của nơi mình gửi xe.

Hơn 7 tỉ đồng là thiệt hại mà các hộ dân chung cư C6, khu đô thị Mỹ Đình 1, phải gánh chịu do ngập hầm để xe trong trận lụt lịch sử tháng 11/2008. “Trận chiến pháp lý” đã nổ ra giữa một bên là những người có xe ôtô đỗ phía dưới tầng hầm chung cư bị nước tràn vào gây hư hỏng nặng, phía bên chủ đầu tư cho rằng đó là sự kiện bất khả kháng (đã quy định trong hợp đồng) nên không bồi thường, còn phía khách hàng thì cho rằng họ phải được thông báo để đưa xe thoát khỏi hầm gửi xe. Tuy nhiên, các khách hàng đã chịu... thua vì phía chủ đầu tư đã chứng minh được đây là sự kiện bất khả kháng, ngoài ý muốn.

Theo quy định của pháp luật, “sự kiện bất khả kháng có nghĩa là tất cả những sự kiện vượt khả năng kiểm soát của các bên, không thể biết trước được, không có sẵn và không thể khắc phục được xảy ra sau ngày đặt hàng làm cản trở toàn bộ hay một phần việc thực hiện nghĩa vụ của bất cứ bên nào. Những sự kiện này bao gồm động đất, bão lớn, lũ lụt, hoả hoạn, chiến tranh và những hành động của chính phủ hoặc công chúng, bệnh dịch, nổi loạn, đình công và bất cứ sự kiện nào không thể biết trước, không thể ngăn cản hoặc kiểm soát được, bao gồm những sự kiện được xác định là sự kiện bất khả kháng theo tập quán thương mại chung của VN”.

Thông thường, trong mỗi hợp đồng mua bán hàng hóa đều có điều khoản qui định về bất khả kháng. Với tính chất là một trong những cơ sở miễn trách nhiệm, điều khoản bất khả kháng ngày càng được sự quan tâm lớn va là điều khoản không thể thiếu trong các hợp đồng. Có hai chuyện cần làm rõ xoay quanh qui định này: Một là, có phải cứ qui định về bất khả kháng như trên, khi các điều kiện như động đất, núi lửa, đình công... xảy ra thì coi đó là bất khả kháng và bên vi phạm hợp đồng sẽ được miễn trách nhiệm? Hai là: Hệ quả của bất khả kháng là gì? Sự kiện bất khả kháng có đương nhiên làm cho hợp đồng tự động chấm dứt hay các bên vẫn phải thực hiện hợp đồng đã giao kết?

Thế nào là sự kiện bất khả kháng ?

Bản chất của hợp đồng là một sự thỏa thuận tự nguyện. Một khi đã giao kết hợp đồng tự nguyện, các bên phải chịu trách nhiệm đối với những gì mình đã thỏa thuận. Do vậy hệ quả nếu một bên vi phạm hợp đồng sẽ bị chế tài. Nhưng trên thực tế, có những sự kiện mà các bên hoàn toàn không ngờ đến khi giao kết hợp đồng. Khi xảy ra sự kiện, họ đã thực hiện mọi biện pháp cần thiết mà vẫn không thể nào ngăn chặn được. Sự kiện này làm cho một bên trong hợp đồng không thực hiện được nghĩa vụ với bên kia. Hệ quả là một bên trong hợp đồng bị thiệt hại!

Bên gây ra thiệt hại, sẽ phải chịu trách nhiệm với bên còn lại trong hợp đồng. Vì bên gây thiệt hại được xác định là có lỗi. Nguyên lí là như vậy. Nhưng trong trường hợp này, vấn đề đã trở nên khác một chút. Vì khi giao kết hợp đồng cả hai bên hoàn toàn không lường trước sẽ xảy ra một sự kiện như vậy. Đồng thời, họ đã thực hiện một cách để ngăn ngừa thiệt hại. Nói như thế để thấy rằng, cho dù là bất cứ ai ở trong hoàn cảnh như vậy cũng không thể khắc phục được.

Hội tụ cả hai điều này, để thấy thiệt hại xảy ra là hoàn toàn ngoài ý muốn của các bên. Pháp luật ghi nhận các sự kiện như vậy dưới tên gọi “sự kiện bất khả kháng”. Nếu xảy ra sự kiện bất khả kháng thì không phải bồi thường. Việc miễn trách nhiệm này xuất phát từ nguyên lí công bằng, ai ở vào trong hoàn cảnh bất khả kháng cũng đều không ngăn chặn được. Nhưng việc áp dụng bất khả kháng sẽ dẫn đến thiệt hại của một bên không đòi được. Nhằm tránh việc trục lợi và bảo đảm trật tự của hợp đồng, việc áp dụng qui định về bất khả kháng được cơ quan xét xử tiến hành một cách cẩn trọng. Theo đó, tòa án/trọng tài sẽ xác định bản chất của hành vi này:

- Có phải là sự kiện không thể tiên liệu ?

- Các bên đã làm mọi cách mà không khắc phục được ?

Cần phân biệt bất khả kháng với góc độ là căn cứ miễn trách nhiệm và các căn cứ chấm dứt hợp đồng.

Nói cách khác, việc xác định sự kiện bất khả kháng sẽ được nhìn nhận trong từng hoàn cảnh cụ thể. Cần phải thấy rằng, việc xác định này hoàn toàn không phụ thuộc vào việc các bên có thỏa thuận về bất khả kháng hay không. Cho dù các bên thỏa thuận các  sự kiện 1, 2... là sự kiện bất khả kháng thì không có nghĩa là sự kiện đó sẽ được coi là sự kiện bất khả kháng mà cơ quan xét xử sẽ coi sự kiện các bên thỏa thuận có đáp ứng hai tiêu chí của một sự kiện bất khả kháng hay không. Cũng như trong trường hợp các bên hoàn toàn không thỏa thuận về sự kiện bất khả kháng, thì tòa án/trọng tài vẫn xem xét cho hưởng miễn trách nhiệm nếu sự kiện gây ra thiệt hại đáp ứng tiêu chí của bất khả kháng.

Miễn trách nhiệm, rồi sao nữa?

Như trên đã đề cập, kết quả của bất khả kháng là sẽ miễn trách nhiệm cho các thiệt hại xảy ra. Rồi sao nữa? Một hợp đồng mua bán hàng hóa, bên bán có nghĩa vụ phải giao hàng cho bên mua trong thời hạn một tháng. Nhưng vì tàu chở hàng của bên bán gặp bão, chìm tàu cùng với hàng hóa. Kết quả bên bán không thể giao hàng cho bên mua. Sự kiện chìm tàu là bất khả kháng. Việc chậm giao hàng sẽ không truy cứu trách nhiệm. Nhưng bên bán có phải tiếp tục giao hàng không? Qui định về sự kiện bất khả kháng là nhằm miễn trách nhiệm cho bên gây thiệt hại trong hợp đồng về việc không thực hiện hợp đồng. Nhưng luật hợp đồng không coi bất khả kháng là căn cứ chấm dứt hợp đồng.

Do vậy, cần phân biệt bất khả kháng với góc độ là căn cứ miễn trách nhiệm và căn cứ chấm dứt hợp đồng. Pháp luật chia sẻ với bên vi phạm hợp đồng vì lí do đặc biệt của hoàn cảnh. Nhưng pháp luật cũng tôn trọng thỏa thuận của các bên. Vì vậy, khi sự kiện này đã qua, bên vi phạm phải thực hiện hợp đồng với bên còn lại.

ThS Phạm Hoài Huấn

search