Thứ Tư, 03/09/2003 - 09:35

Từ "Mã Phìa" của Vua Mèo trở thành Phó chủ tịch tỉnh 21 tuổi

Từ thân phận một "Mã Phìa", người chăn ngựa cho Vua MèoVương Chí Sình, bằng sự giác ngộ và phấn đấu của mình, ông đã trở thành Phó Chủ tịch tỉnh Hà Giang rồi trở thành Đại biểu Quốc hội khoá II vào năm 21 tuổi, một ĐBQH trẻ nhất lúc bấy giờ. Vua Mèo Vương Chí Sình tin cẩn giao cho ông việc áp tải 22.000.000 đồng bạc trắng hoa xoè và 9 kg vàng về Hà Nội đóng góp cho Chính phủ... Bây giờ, bước vào tuổi 73 với 50 năm tuổi Đảng, giữa cái ồn ào của thị xã miền biên, ông lặng lẽ ngồi ôn lại quãng thời gian đã qua.

Tên thật của ông là Vù Mý Kẻ, thế nhưng những người biết và quý trọng ông đều gọi ông bằng cái tên thân mật: Mã Phìa. Mảnh đất Hà Giang - nơi địa đầu Tổ quốc, xưa kia cho tới những năm 1946 - 1947 vẫn được mệnh danh là miền đất dữ. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, giặc Tưởng lũng đoạn, Pháp luôn có xu hướng thao túng, các thế lực của các dân tộc thiểu số luôn nổi dậy nhũng nhiễu, Hà Giang lúc bấy giờ phức tạp hơn bao giờ hết. Thế lực người Mông (trước đây vẫn gọi là Mèo) trắng do Vương Chí Sình cầm đầu cũng xuất hiện trong thời gian ấy rồi mạnh dần và trở thành vương triều có sức mạnh, thao túng toàn bộ khu vực cực Bắc cũng như toàn bộ vùng Đông và Tây Bắc. Vào lúc Vương Chí Sình đang vượng thì Vù Mý Kẻ ra đời. Chẳng ai có thể ngờ rằng sau này, cậu bé con nhà nghèo có tạng người nhỏ thó không tướng mạo ấy lại có thể thu phục được cả một ông vua có tiếng như Vương Chí Sình và trở thành một đảng viên trung kiên có đóng góp rất nhiều cho cách mạng.

Ông Vù Mý Kẻ sinh năm 1929 tại Sà Phìn (Đồng Văn - Hà Giang) trong một gia đình có 3 anh em. Nhà ông ngày ấy nghèo lắm, chưa đầy 5 tuổi bố ông mắc bệnh hiểm nghèo rồi qua đời. Thiếu thốn từ tấm bé, lớn lên hầu như suốt ngày ông phải đi làm thuê để kiếm cơm hay đi ăn xin trong làng bản. Năm 15 tuổi, một bận đang cuốc hố đá trồng ngô cùng mẹ ông đã gặp vua Mèo Vương Chí Sình. Lúc đó ông chẳng biết vua quan là thế nào mà chỉ biết là một người giàu, có nhiều người làm thuê và bắt người ta phải chết được. Gặp vua Mèo với đám tuỳ tùng, vua Mèo dừng ngựa nhìn ông một hồi rồi bảo: "Có về làm thuê cho ta không?" Có việc làm, có cơm ăn là điều ông mong muốn nhất lúc này. Thế là ông theo vua Mèo Vương Chí Sình về và trở thành người chăn ngựa. Từ chăn ngựa đàn, với sự chăm chỉ và nhanh nhẹn, ông đã được cắt cử chăn và dắt con ngựa quý cho Vương Chí Sình. Hai năm ăn cơm trong dinh thự của vua Mèo, ra vào có người kiểm soát nghiêm ngặt, bước vào tuổi 17 cuộc đời ông chuyển sang một bước ngoặt dữ dội khi ông gặp một cán bộ ở dưới xuôi lên (ông không còn nhớ tên người cán bộ ấy nữa). Vẫn trong công việc của một mã phìa nhưng tư tưởng ông đã thay đổi, ông bắt đầu chính thức tham gia công việc cho chính quyền cách mạng.

Cứ âm thầm trong vai một mã phìa và làm các công việc do chính quyền cách mạng giao. Tháng 12/1945, cùng với cả nước, thời gian chín muồi đã đến, Uỷ ban kháng chiến ở Hà Giang trong đó có ông đã quyết định khởi nghĩa và giải phóng Hà Giang. Tuy được giải phóng nhưng tình hình chính trị của Hà Giang lúc bấy giờ vẫn rất phức tạp. Vương Chí Sình trở thành người trung lập và đang lựa chọn cho mình một đảng phái để đi theo. Tình hình Hà Giang lúc này lại căng thẳng hơn. Chính quyền Tưởng Giới Thạch cũng muốn kéo Vương Chí Sình về để giành Hà Giang làm bàn đạp mở rộng địa bàn tấn công chính quyền cách mạng. Pháp lúc đó tuy bị thất thế nhưng cũng muốn nhảy vào thu phục Vương để tái chiếm cao nguyên Đồng Văn tận dụng cơ hội nắm toàn bộ vùng Đông và Tây Bắc sau đó đánh rộng ra để chiếm lại chính quyền. Lúc bấy giờ, tuy có sự giảm sút về vai trò nhưng Vương Chí Sình vẫn là "linh hồn" của các dân tộc thiểu số từ Đông sang Tây Bắc, đặc biệt là với người Mèo.

Vù Mý Kẻ, bằng sự thân quen vốn có và tính khôn khéo của riêng mình, đã tiếp cận vua Mèo, phân tích những lẽ đúng sai hơn thiệt cũng như vai trò và tính tích cực của chính quyền cách mạng. Chẳng bao lâu, bằng tài thao lược và thuyết dụ của mình, Vù Mý Kẻ đã thu phục được Vương Chí Sình. Nhiệm vụ được giao thành công vào năm 1946 khi Vương Chí Sình quyết định cùng Vù Mý Kẻ xuống Hà Nội gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau lần gặp gỡ ấy, cảm phục trước Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như chính quyền cách mạng, toàn bộ tình hình ở Hà Giang xoay chuyển hẳn. Tuyến biên giới phía bắc đã trở thành phên dậu vững chắc cho quốc gia. Cũng trong năm này, khi "Tuần lễ vàng" được phát động, ngoài việc vận động nhân dân trong tỉnh đóng góp ngân khố cho cách mạng, với tư cách cá nhân, Vù Mý Kẻ đã vận động Vương Chí Sình đóng góp. Sau hơn 2 giờ nói chuyện, Vương Chí Sình đã quyết định đem số tài sản khổng lồ gồm 22.000.000 đồng bạc trắng hoa xoè và 9 kg vàng để góp quỹ. Vàng, bạc được góp, Vương Chí Sình đã tin cẩn giao cho Vù Mý Kẻ nhiệm vụ áp tải số tài sản đó về Hà Nội cho chính quyền cách mạng. Từ cán bộ trong Uỷ ban kháng chiến huyện Đồng Văn ông Vù Mý Kẻ đã được bầu làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang và được bầu làm Đại biểu Quốc hội khoá II ở tuổi 21. Ông trở thành Đại biểu trẻ nhất lúc bấy giờ và giữ cương vị này cho tới hết khoá VII.

Trong ngôi nhà hẹp và cũ bên một ngõ hẻm ở khu tập thể lắp ghép (thuộc phường Minh Khai - thị xã Hà Giang), trong lúc chuyện trò, tôi hỏi ông về kỷ niệm lớn lao nhất trong đời, đôi mắt đã chuyển màu thời gian của ông chợt xa vắng lạ lùng, ông chậm rãi kể: "Cuộc đời tôi có nhiều cái để nhớ. Tôi không sao quên được những lần đi bộ từ Đồng Văn về Hà Giang rồi từ Hà Giang về Hà Nội để họp hành triển khai công việc với những bữa no đói phập phù và những đàn vắt rừng bám xanh ống chân. Thế nhưng có lẽ trong đời mình, tôi nhớ nhất những lần được gặp Bác, Bác mời cơm riêng độ 10 lần tại Phủ Chủ tịch. In đậm trong tâm trí tôi nhất là lần đầu tiên gặp Bác ở kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá II. Giữa các đại biểu quốc hội đến từ khắp mọi miền Tổ quốc, cuối buổi, Bác tìm đến chỗ tôi. Bác biết rất rõ về tôi. Bác ân cần thăm hỏi và mời cơm riêng. Trong bữa cơm đầu tiên ấy, Bác hỏi tôi rất nhiều. Bác bảo, cán bộ phải coi mình là đầy tớ của nhân dân. Là đầy tớ thì phải chịu khổ. Mình chịu khổ thì dân mới được hạnh phúc. Sau buổi gặp ấy Bác đã đưa chúng tôi về Hà Tây dạy cấy lúa, Bác cũng xắn quần, cũng lội ruộng cầm mạ cấy như mọi người nông dân khác. Bác bảo riêng với tôi, phải học cấy để về vùng cao dạy dân mở ruộng cấy lúa lấy thóc ăn cho no bụng. Phải có thóc, phải no bụng thì mới làm được nhiều việc. Từ buổi đầu tiên và những buổi được gặp Bác sau này tôi và tất cả mọi người đều coi Bác như cha như mẹ và luôn cố gắng phấn đấu để không phụ lòng Người. Điều mà tôi ân hận suốt cuộc đời, đó là ngày Bác mất mà tôi không về được tận nơi để thắp cho Người một nén nhang".

Tôi chợt thấy lòng mình nao nao khi phát hiện ra chiếc áo màu xanh trứng sáo nhàu nát của ông có một chiếc cúc đứt mà chưa đính lại. Vâng, ông nghèo nhưng thanh thản quá!.

Ghi chép của Minh Châu

search