Thứ Tư, 03/09/2003 - 09:35

Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC): Xu hướng tất yếu ?

Mục đích của AEC là tìm ra các phương thức nhằm thúc đẩy tiến trình hội nhập ASEAN nhanh hơn nữa dựa trên khái niệm Tầm nhìn ASEAN 2020 trong Chương trình hành động Hà Nội: tạo nên "Một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng và có khả năng cạnh tranh cao" với việc lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ và đầu tư, tiền vốn tự do...

Tại sao cần có AEC?

Tại sao cần có AEC trong khi đã có Khu vực tự do thương mại ASEAN (AFTA), Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) và Khu vực đầu tư ASEAN (AIA)? Câu trả lời thực ra rất rõ ràng: những chương trình hiện có của ASEAN không đủ hiệu quả để có thể đưa ASEAN đạt mục tiêu thúc đẩy hơn nữa hội nhập kinh tế và tăng cường cạnh tranh. Hiện đang xuất hiện thêm nhiều thách thức và khó khăn mà những nhà lãnh đạo ASEAN của giai đoạn trước chưa thể nhận thấy hết được. Đặc biệt, kể từ cuộc khủng hoảng năm 1997 với sự sụt giá chung của đồng tiền các nước trong khu vực đã làm thay đổi việc tăng khả năng cạnh tranh thông qua hội nhập ASEAN. Thêm vào đó, sự nổi lên và tham gia của Trung Quốc vào lĩnh vực thương mại và kinh tế trong khu vực đã khiến khả năng cạnh tranh và sức hấp dẫn đầu tư vào ASEAN bị thu hẹp. GDP của Trung Quốc hiện gấp đôi ASEAN. Khoảng 80% FDI của khu vực Đông á chảy vào Trung Quốc và các nguồn FDI dự tính sẽ vào ASEAN nay chuyển hướng sang Trung Quốc sau khi nước này gia nhập WTO. Trung Quốc cũng là nước có lợi thế so sánh rất lớn: nhân công rẻ (chỉ bằng một nửa so với Philippines) và lực lượng lao động đông đảo đã qua đào tạo. Vào thời điểm hậu SARS này, nền kinh tế Trung Quốc vẫn đạt tốc độ tăng trưởng 6-7% trong khi tỷ lệ tăng trưởng của ASEAN chỉ vào khoảng 3-4% (Ban Thư ký ASEAN, 2003).

Các nhân tố trên là lý do để các nước ASEAN cần xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN nhằm "thúc đẩy tiến trình hội nhập ASEAN nhanh hơn nữa sau khi lộ trình cắt giảm thuế quan AFTA hoàn tất" và coi đó là "chiếc chìa khoá để thực hiện Tầm nhìn ASEAN 2020". AEC sẽ tạo nên một thị trường mà ở đó các nguồn lực, hàng hoá và dịch vụ có thể lưu chuyển tự do trong khu vực. Điều này khiến cho giá lao động giảm và nhờ vậy sản phẩm của ASEAN có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Tiến sĩ Võ Trí Thành - Viện Quản lý Kinh tế trung ương cho rằng "AEC là một cách mà ASEAN có thể có vị trí quan trọng như một trung tâm của Đông á".

Chỉ có như vậy, các nhà đầu tư nước ngoài mới coi ASEAN như là một địa điểm để đầu tư và họ cũng sẽ bị hấp dẫn bởi hiệu quả từ việc thống nhất thị trường và những cơ hội mới được tạo ra bởi một thị trường khu vực lớn hơn. Theo GS Mohd Haflah Piei - Phó Giám đốc Viện nghiên cứu Kinh tế Malaysia, nếu AEC được thực hiện: "GDP của ASEAN sẽ từ 720 tỷ USD năm 2000 lên 2,6 nghìn tỷ USD năm 2020 (tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 6%); thu nhập bình quân đầu người tăng từ 1.440 USD năm 2000 lên 3.600 USD năm 2020; Malaysia, Singapore và Thái Lan có thể được nhận quy chế của nước phát triển (GDP đầu người 10.400 USD)".

Thực tế và khoảng cách

Mặc dù ASEAN đã có rất nhiều nỗ lực nhưng quá trình hội nhập thị trường vốn vẫn rất chậm do các Bộ trưởng Tài chính ASEAN đã quyết định phải tăng cường lĩnh vực pháp lý và pháp luật, cơ sở hạ tầng của thị trường cho hoạt động thương mại, các thủ tục thanh toán minh bạch... Cùng với đó, việc thực hiện những cam kết được đưa ra bởi các nước ASEAN còn rất yếu. Hàng rào thương mại chung được tạo ra bởi chính các cam kết của các nước ASEAN là yếu tố chính tạo nên những hạn chế cho việc lưu chuyển hàng hoá, lực lượng lao động...

Không thể không nói đến xu hướng hình thành chủ nghĩa đơn phương với các hiệp định thương mại song phương được ký gần đây. Điển hình là Singapore, nước này đang theo đuổi hiệp định song phương với nhiều nước, thậm chí với những nước mà ASEAN đã đàm phán như Nhật Bản, ấn Độ, Mỹ... Hiện tượng này cho thấy sự suy yếu trong tiến trình hội nhập của AFTA và việc một vài quốc gia bắt đầu thiếu kiên nhẫn. Thêm vào đó, ASEAN không có một định chế bắt buộc đối với các hiệp định đã ký. Kết quả là Myanmar đơn phương đóng cửa biên giới trong vòng hơn 5 tháng với Thái Lan đầu năm 2002 nhưng Thái Lan cũng không hề viện dẫn đến AFTA; Malaysia từ chối không giảm thuế suất đánh vào ôtô cho đến trước 2005, Philippines từ chối việc dỡ bỏ thuế đối với các sản phẩm hoá dầu theo như kế hoạch vì Indonesia từ chối dỡ bỏ thuế suất đối với các sản phẩm dệt may, VN và Thái Lan vẫn giữ mức thuế cao cho mặt hàng lúa gạo đến tận năm 2020... Chính những nhân tố này đã gây ra khó khăn cho việc hình thành một AEC thống nhất, ổn định và phát triển.

Tuy nhiên, ngay cả khi các nhân tố thiếu tích cực trên được giải quyết thì một khó khăn nữa đang gặp phải là xây dựng AEC theo mô hình nào. Theo mô hình của Châu Âu, một mô hình mới hay chỉ cần thực hiện tốt "Chương trình hành động Hà Nội"... Tất cả vẫn là một câu hỏi để ngỏ./.

Tường Linh

search