Chủ Nhật, 06/05/2012 - 08:33

Thông tư 03 về việc cho vay bằng ngoại tệ: Cửa nào cho DN “khát” vốn ?

(DĐDN) Từ ngày 2/5/2012, với hiệu lực của Thông tư số 03/2012/TT-NHNN của NHNN về việc cho vay bằng ngoại tệ, song song là Thông tư 07/2012/TT-NHNN cũng của NHNN quy định trạng thái ngoại tệ cuối ngày của các tổ chức tín dụng (TCTD), các DN xuất nhập khẩu (DNXNK) sẽ không còn “rộng đường thênh thang” trong việc tiếp cận nguồn vốn ngoại tệ như trước.
 
Các TCTD khó có cơ hội “lách” quy định của Thông tư 03

So với các nhóm ngành DN khác như bất động sản, Dịch vụ và sản xuất, kinh doanh nội địa nói chung, nhóm DNXNK thời gian qua được hưởng khá nhiều ưu đãi.

Gõ cửa bao thanh toán

Trước đây, việc tiếp cận vay vốn ngoại tệ để thực hiện các chức năng XNK của DN thường được thực hiện căn cứ trên tài sản đảm bảo, tín dụng thư, hợp đồng XNK của DN. Một số NH có thêm quy định là DNXK khi có nguồn thu ngoại tệ phải cam kết bán lại cho NH. Một số DN khác không có chức năng XNK hoặc có nhưng không có hợp đồng, không tín dụng thư, cũng “đi sân sau”, lách các quy định về vay ngoại tệ để được vay ngoại tệ hạn mức lớn bằng cách ký quỹ lại một phần tổ chức cho vay, phần còn lại quy đổi ra tiền đồng để hoạt động sản xuất – kinh doanh, tránh lãi suất tiền đồng đang cao. Nay thì thông lệ cũ, quy cách cũ với các biến hoá đi kèm như vậy sẽ không còn. Thông tư 03 đã nêu rõ: NHTM chỉ được phép cho vay bằng ngoại tệ để thanh toán tiền nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ khi khách hàng có đủ nguồn thu ngoại tệ để trả nợ.

Để “có đủ nguồn thu ngoại tệ trả nợ”, dĩ nhiên NH và DNXNK không thể chỉ căn cứ trên hợp đồng XNK. Đây có thể nói quy định bắt buộc các NH phải “nắm đằng chuôi” trong quy trình cấp tín dụng cho DN, mặc dù rủi ro không phải không còn. Hơn thế, đây cũng là phương pháp khôn ngoan “dồn thỏ vào một chuồng”, bắt buộc các DN muốn tiếp tục tiếp cận được vốn vay ngoại tệ, phải tự nguyện phá “chiêu” mở nhiều tài khoản vay ở nhiều NH khác nhau, và chỉ tập trung tài khoản vào một TCTD duy nhất có thể cung ứng luôn dịch vụ quản lý dòng tiền của DN, bao thanh toán cho DN.  Nói cách khác, với Thông tư 03, nếu DN vẫn muốn vay ngoại tệ giá rẻ, sẽ phải đáp ứng được các tiêu chí của dịch vụ tài chính trọn gói bao thanh toán, sử dụng trọn gói NH tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ. Có thể hình dung nôm na đây là hình thức NH tài trợ cho những khoản thanh toán chưa đến hạn, từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng hàng hóa và dịch vụ của DN, và là một dạng hoạt động mua bán nợ.

Chỉ DN lớn mới đủ điều kiện

Hiện nay, khá nhiều NHTM như Techcombank, Á Châu, Ngoại thương, Sài Gòn Thương Tín, Phương Đông, Xuất nhập khẩu, Quốc tế, Đông Nam Á , Việt Á, Nam Á, Phát triển TP HCM, Phát triển nhà Hà Nội, Hàng Hải… cung ứng dịch vụ này. Trong số  đó, có một số NH đã là thành viên của Hiệp hội bao thanh toán quốc tế (FCI). Với các NHTM nước ngoài tại VN, đây là một nghiệp vụ quen thuộc mà hầu như NH nào cũng có cung ứng. Tuy nhiên, bao thanh toán vẫn chỉ mới được các NHTM cung cấp ở mức độ có quyền truy đòi. Và dù truy đòi hay miễn quyền truy đòi thì DN VN cũng không “mặn mà” lắm với dịch vụ này, do thay vì không cần tài sản đảm bảo cho khoản vay ứng trước, muốn được ứng vốn, họ vẫn phải có… tài sản đảm bảo.

Sở dĩ có nghịch lý đi ngược lại ưu điểm của dịch vụ bao thanh toán là vì báo cáo tài chính, năng lực tài chính dựa trên sổ sách của DN VN nói chung có cơ sở tin cậy khá thấp. NH vẫn phải thực hiện phương pháp “cho vay kiểu cầm đồ” đối với mọi loại hình dịch vụ cấp tín dụng cho DN để đảm bảo an toàn vốn. Và khi muốn được cấp tín dụng ứng vốn qua bao thanh toán, DN vẫn phải có hồ sơ tài chính, hợp đồng nhập khẩu, tài sản bảo đảm, phiếu xuất kho và phải tuân thủ quy trình thẩm định vay vốn như bất kỳ dịch vụ cho vay vốn nào khác, nên DN… nản! Chưa kể, DN  còn phải trả thêm các khoản phí theo biểu phí bao thanh toán của bên mua (có thể thu 1 lần hoặc nhiều lần) như phí quản lý sổ sách, phí chuyển phát nhanh và các chi phí phụ khác… để bù trừ chi phí rủi ro mà bên mua có thể gặp phải. Vì vậy, trong môi trường và điều kiện khá đặc thù của dịch vụ này ở VN, sẽ chỉ có những DN lớn là có thể gõ cửa bao thanh toán. 

Trong ngày 02/5/2012, vào ngày Thông tư 03/2012 chính thức có hiệu lực, NHNN đã có công văn số 2650/NHNN-CSTT gửi các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (gọi chung là TCTD) về việc cho vay ngoại tệ để nhập khẩu xăng dầu và Quyết định số 857/QĐ-NHNN về việc cho vay ngắn hạn bằng ngoại tệ của TCTD đối với khách hàng vay là người cư trú.

Theo đó, trường hợp DN kinh doanh nhập khẩu xăng dầu được Bộ Công thương giao hạn mức nhập khẩu xăng dầu năm 2012 (DN đầu mối nhập khẩu xăng dầu) có nhu cầu vay vốn bằng ngoại tệ để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu xăng dầu, mà không có hoặc không có đủ nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động sản xuất - kinh doanh để trả nợ vay, thì TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xem xét cho vay ngắn hạn bằng ngoại tệ theo quy định tại Thông tư số 03/2012/TT-NHNN. Việc cho vay đối với nhu cầu vốn này được thực hiện đến hết ngày 31/12/2012. NHNN yêu cầu, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện cho vay ngắn hạn bằng ngoại tệ đối với các DN đầu mối nhập khẩu xăng dầu phù hợp với quy định tại Thông tư số 03/2012/TT-NHNN, quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối và các quy định của pháp luật có liên quan; đảm bảo khả năng thu hồi nợ gốc và lãi đúng hạn. TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có nhu cầu cho vay để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu xăng dầu, gửi văn bản đăng ký với NHNN.

Về nội dung của Quyết định 857QĐ/NHNN, NHNN cho phép các TCTD hoạt động ngoại hối được xem xét quyết định cho khách hàng là người cư trú vay vốn ngắn hạn bằng ngoại tệ để đáp ứng các nhu cầu vốn ở trong nước nhằm thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng hoá xuất khẩu qua cửa khẩu, biên giới VN mà khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu để trả nợ vay; khi được TCTD giải ngân vốn vay, khách hàng vay phải bán số ngoại tệ vay đó cho TCTD cho vay theo hình thức giao dịch hối đoái giao ngay (spot), trừ trường hợp nhu cầu vay vốn của khách hàng để thực hiện giao dịch thanh toán mà pháp luật quy định đồng tiền giao dịch phải bằng ngoại tệ. Quy định này cũng được thực hiện đến hết ngày 31/12/2012 và có hiệu lực ngay trong ngày ký.

Có thể nói đây là hai văn bản được ban hành kịp thời vào đúng thời điểm các TCTD thực hiện Thông tư 03, nhằm hướng dẫn rõ ràng hơn các quy định đã ban hành. Nhìn chung, với những điều kiện được nêu chi tiết trong 2 văn bản vừa ban hành, các TCTD có thể căn cứ theo đó, xem xét việc cho vay bằng ngoại tệ và cũng khó có cơ hội “lách” quy định của Thông tư 03. Ngược lại, qua đó, NHNN cũng có thể quản lý, giám sát được việc thực thi chính sách của các TCTD. 

Quay về với tín dụng tiền đồng

Với các DNVVN, con đường tiếp cận vốn tín dụng lúc này chỉ còn có nước… quay trở lại với tiền đồng. Dĩ nhiên, sẽ không có mấy DN cam tâm hay tình nguyện chịu thiệt để vay vốn bằng tiền đồng với lãi vay 15 -16% (xét theo mức cho vay thấp nhất trên toàn hệ thống) nếu họ vẫn còn có cơ hội nào đó vay vốn ngoại tệ giá rẻ, lãi suất thấp chỉ bằng ½ so với lãi suất tiền đồng.

Vấn đề là khi Thông tư 03 có hiệu lực, lại kết hợp với Thông tư 07, thì các kiểu “lách” hoặc “đi sân sau” trong vay vốn cũng khó còn cơ hội thi thiển.  DN buộc phải chọn “cửa sống” là chấp nhận vay tiền đồng. Đó cũng là “cửa sống” của TCTD nếu muốn lấy lại phong độ tăng trưởng sau một quý tăng… âm so với cùng kỳ.

Một chuyên gia phân tích, năm 2011, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình đã thực hiện được cam kết về ổn định tỉ giá. Năm nay, với dự trữ ngoại hối tăng khoảng 30%, dự báo nguồn kiều hối tiếp tục dồi dào và sẽ đạt trên 12 tỉ USD vào cuối năm 2012, thị trường vàng cũng sẽ bắt đầu đi vào “khuôn khổ” khi Nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng cũng bắt có hiệu lực từ ngày 25/5 tới đây. Đặc biệt, lạm phát đang có xu hướng giảm khiến khả năng điều chỉnh tỉ giá sẽ càng khó xảy ra, thì cam kết giữ vững tỉ giá trong khoảng biến động chỉ 2 - 3% của Thống đốc NHNN đang có rất nhiều yếu tố hỗ trợ. 

Trước mắt, theo dự báo của Ngân hàng HSBC từ nay đến cuối năm, tỉ giá khó vượt ngưỡng 21.500 đ.  Khi tỉ giá không có biến động, DN sẽ không còn quá nặng nỗi lo rủi ro tỉ giá. Còn giả dụ nếu lạm phát vẫn cao, tỉ giá biến động, tiền đồng trượt giá thì cơ bản, DN xuất khẩu cũng sẽ là đối tượng được hưởng lợi khi bán ngoại tệ lại cho NHTM với tỉ giá điều chỉnh tăng lên. Riêng với DN nhập khẩu, nếu lạm phát cao, lãi suất cao, hàng nhập về tính theo tỉ giá cao, DN sẽ chịu gánh nặng về áp lực khi phải mua ngoại tệ thanh toán tiền hàng. Nhưng theo quy luật tự nhiên “nước nổi bèo nổi”, hầu như mọi yếu tố trượt giá như vậy đều được DN nhập khẩu tính vào giá hàng bán ra.

Do đó, sẽ không có lý do gì khiến DN khước từ vay vốn tiền đồng, ngoại trừ… lãi suất vay tiền đồng vẫn cao. Và DN vẫn đang có tâm lý nấn ná chờ lãi suất tiếp tục thực giảm.

Bà Đặng Phương Dung -PCT kiêm Tổng thư ký Hội Dệt May VN:

Tôi cho rằng các DN dệt may hiện không quá lo lắng về việc tiếp cận vốn nói chung, và vốn vay bằng ngoại tệ nói riêng. 80% nguồn nguyên liệu của DN dệt may là nhập khẩu, do đó áp lực vay ngoại tệ của nhóm DN ngành này lẽ ra rất lớn. Nhưng căn cứ theo cung cầu thị trường, DN sẽ chỉ vay ngoại tệ để nhập khẩu khi DN xuất khẩu có đơn hàng. Đây cũng sẽ điều kiện để DN tự tin thực hiện hồ sơ tiếp cận tín dụng mua hàng, ngay khi các đơn hàng gia tăng. Hơn nữa, ngoài vay vốn tín dụng thì DN vẫn còn có rất nhiều cách thức “xoay vốn” khác. Vả lại, trong trường hợp quá khó khăn, Hiệp hội cũng sẽ có tiếng nói kiến nghị chính thức lên các nhà quản lý chính sách, các TCTD để tháo gỡ khó khăn cho DN. Vấn đề lớn của DN hiện nay vẫn là làm thế nào tiếp cận được dòng vốn giá rẻ, để đồng vốn đó sinh lợi.

Ông Nguyễn Thanh Toại - Phó TGĐ Ngân hàng ACB:

Việc DNXNK có tiếp cận được vốn vay bằng ngoại tệ hay không, phụ thuộc không chỉ từ một phía DN hay NH. Ở phía NH, ngoài trạng thái ngoại tệ biến động theo mỗi ngày của mỗi một TCTD, quan trọng là TCTD đó có thiết lập được một chuỗi sản phẩm tín dụng liên hoàn dành cho DN xuất nhập khẩu, từ khâu thu mua cho đến khâu bao thanh toán hàng hóa hay không. Các dịch vụ có liên tục được cải thiện theo nhu cầu thị trường hay không. Ở phía DN thì họ có sẵn sàng, thành tâm thiện ý tạo điều kiện cho NH kiểm soát toàn bộ dòng tiền, tạo dựng cho NH niềm tin trả nợ để dễ dàng tiếp cận vốn hay không. Trên thực tế thì dù không phát triển mạnh nhưng dịch vụ bao thanh toán đã có ở thị trường VN gần 9 năm. Với Thông tư 03, với mục tiêu nắn dòng tín dụng về với VND, tôi cho rằng dịch vụ bao thanh toán sẽ còn có nhiều cơ hội để phát triển tốt hơn trong thời gian tới.

 
Lê Mỹ
search