Thứ Sáu, 05/03/2010 - 06:02

Thâm hụt thương mại và cán cân thanh toán : Bài toán khó

VN có khoảng 20 tỷ USD dự trữ ngoại tệ - tương đương với gần 4 tháng nhập khẩu - nên phạm vi can thiệp hạn chế, dẫn đến thiếu hụt USD trên thị trường tự do.

Thâm hụt cán cân thanh toán của VN là trên 8,8 tỷ USD trong năm 2009
 
Theo các chuyên gia của Dự án hỗ trợ Thương mại Đa biên giai đoạn 3 (Mutrap III), cán cân thanh toán có thể duy trì trong thời gian dài chỉ khi VN có thể trả hết nợ nước ngoài nhờ thặng dư thương mại lớn trong tương lai. Ngược lại, cán cân thanh toán rơi vào khủng hoảng ngắn hạn nếu các khoản nợ ngắn hạn không được ưu đãi và dự trữ không đủ để bù đắp nhập khẩu ròng.

IMF cho biết thâm hụt cán cân thanh toán của VN là trên 8,8 tỷ USD trong năm 2009, và triển vọng thâm hụt cán cân thanh toán vẫn là thách thức.

Mất cân đối

Các chuyên gia của Mutrap III cho rằng, đối với cán cân thanh toán của VN, năng lực xuất khẩu của VN vướng phải một số bất lợi, đó là: Chưa thực sự hội nhập vào chuỗi cung ứng của khu vực; Giá trị gia tăng thấp; Tính dễ bị tổn thương và tập trung cao của các mặt hàng xuất khẩu chính; Quy mô xuất khẩu thấp... Trong khi đó, những yếu tố tác động đến sức hút nhập khẩu của VN là: Sản xuất để xuất khẩu vẫn đòi hỏi nguồn nhập khẩu lớn; Tính bất ổn của giá cả hàng hóa trên thế giới; Hoạt động đầu cơ; Thuế suất thấp và hệ quả của việc gia nhập WTO và các hiệp định thương mại song phương.

Việc thông qua các biện pháp hạn chế thương mại để khắc phục tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai hiện nay, bắt đầu từ hạn chế nhập khẩu cho đến tăng thuế quan chỉ nên coi là giải pháp sau cùng.

Theo các điều khoản về cán cân thanh toán của WTO, các nước thành viên có quyền áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu theo những điều kiện nhất định. WTO có ngoại lệ cho phép áp dụng hạn chế nhập khẩu nhằm bảo vệ tình hình tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán (BOP), và trong trường hợp các nước đang phát triển, nhằm bảo đảm mức dự trữ đủ để thực hiện các chương trình phát triển kinh tế.

Việc mở cửa nền kinh tế VN ra thế giới bên ngoài, đặc biệt là gia nhập WTO và tham gia các hiệp định thương mại tự do đã gia tăng nhập khẩu. Nếu nhập khẩu tăng làm nẩy sinh những vấn đề mới cho nền kinh tế nội địa, thì VN có nhiều khả năng để áp dụng các hạn chế nhập khẩu, phù hợp với luật lệ trong nước và các cam kết quốc tế (WTO, FTA và cam kết song phương), bao gồm: tăng thuế suất lên mức thuế cam kết, áp dụng các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá và chống đối kháng và xem xét áp dụng Điều XXVIII của GATT năm 1994 (Sửa đổi biểu cam kết thuế) để đàm phán lại các nhượng bộ về thuế quan khi gia nhập WTO.

Và câu hỏi đặt ra là việc áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu nhằm bảo vệ tình hình tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán (BOP) liệu có thể dễ dàng áp dụng đối với VN trong hoàn cảnh này?

Giải pháp nào ?

Ông Peter Naray - chuyên gia của Mutrap bình luận rằng các vấn đề của VN chưa tới mức nghiêm trọng và vẫn có thể kiểm soát được. Vì nhiều lí do, cán cân thanh toán của VN vẫn chưa bị coi là tình trạng báo động. Lý do thứ nhất là do các món nợ ngắn hạn của VN có thể được trả đúng hạn. Mức độ dự trữ hiện nay là cao hơn so với các năm trước và vì có ít yêu cầu trả các khoản nợ nhỏ ngắn hạn, nên không có thúc bách lớn cần phải dự trữ quốc tế trong ngắn hạn và trung hạn. Các dự trữ đủ lớn với kim ngạch nhập khẩu và sự mất cân đối thương mại của VN đã có dấu hiệu chứng tỏ được phục hồi. Hơn nữa, các dòng vốn quốc tế được dự báo sẽ trở lại xu thế như trước đây, khi nền kinh tế thế giới khởi sắc vào năm 2010. Điều quan trọng là VN vẫn giữ được niềm tin đối với nền kinh tế, đảm bảo làm giảm thiểu sự di chuyển vốn.

Việc thông qua các biện pháp hạn chế thương mại để khắc phục tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai hiện nay, bắt đầu từ hạn chế nhập khẩu cho đến tăng thuế quan có thể là giải pháp bất lợi cho nền kinh tế VN. Vì vậy, chỉ nên coi đây là giải pháp cuối cùng.

Thứ nhất, VN có thể xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu cao về nhập khẩu của một số nước, việc áp các biện pháp hạn chế nhập khẩu sẽ làm mất tính cạnh tranh trong xuất khẩu của VN. Thứ hai, việc áp dụng chính sách thương mại thay đổi như vậy có thể dẫn đến tình trạng một số dự án đầu tư có vốn trực tiếp nước ngoài sẽ rút về hoặc đóng băng, vì những dự án này cần nhập khẩu cho đầu vào hoặc công nghệ của họ. Thứ ba, những biện pháp như vậy có thể gây mất lòng tin của nhà đầu tư đối với viễn cảnh kinh tế của VN. Điều này có thể sẽ dẫn đến tình trạng di chuyển vốn và tạo ra áp lực làm mất giá đồng tiền VN.

Tiến sĩ Võ Trí Thành - chuyên gia kinh tế khi nhìn nhận về viễn cảnh kinh tế và tầm nhìn chính sách VN 2010 cho rằng: Cần phải tính đến việc can thiệp của chính sách vĩ mô trong giai đoạn của khủng hoảng và rút lui ra khỏi khủng hoảng như thế nào ? Vấn đề mất cân đối có mang tính chất bền vững không ? Không có nền kinh tế nào có thể cân đối cả bên trong và bên ngoài, trong nền kinh tế có mức độ đôla hóa như của VN các chính sách tài khóa và tiền tệ rất khó thống nhất điều này tạo điều kiện cho các nhà đầu cơ tài chính. Cơ cấu xuất nhập khẩu của VN có vấn đề, nợ nước ngoài tăng nhanh... trong 2 năm qua VN đã sử dụng quá nhiều biện pháp hành chính nên đặt nền kinh tế hiện tại trong một trạng thái rất khó. Ví dụ: trần lãi suất, trần về thâm hụt ngân sách... các mất cân đối đang diễn ra nghiêm trọng và có xu hướng tăng. Các giải pháp: thắt chặt chính sách tiền tệ, đồng VN phải được bảo vệ bằng cách tăng lãi suất, nhưng vấn đề đặt ra là tiến độ chính sách là ngay lập tức hay từ từ ?

Nhóm chuyên gia Dự án EU – VN Mutrap III, Paul Baker và Peter Naray cũng kiến nghị những chính sách mà VN có thể áp dụng. Trong ngắn hạn, đó là: Giảm thuế suất treo; Giảm các biện pháp khắc phục thương mại; Cải thiện chính sách thương mại; Tập trung giải quyết thâm hụt kép; Xây dựng lòng tin về đồng tiền VN đi kèm duy trì sự ổn định giá cả; Đánh giá nợ ngắn hạn và giới hạn mức trần tài khóa và tiền tệ, cải thiện thông tin thống kê...

Trong trung – dài hạn có thể áp dụng các chính sách như: Tập trung giải quyết những mất cân đối kinh tế vĩ mô và các vấn đề quản lý thông thường; Tăng cường các biện pháp thương mại trong nước; Xây dựng các chính sách bình ổn nhằm giảm bớt những dao động; Tăng cường các dịch vụ hỗ trợ trong nước và đặc biệt là cải thiện trình độ nguồn nhân lực ở VN.

Phan Nam

search