Thứ Ba, 18/07/2006 - 05:05

Vai trò thực của xuất khẩu

Dường như đang phổ biến quan điểm cho rằng tăng trưởng kinh tế tỷ lệ thuận với tăng trưởng xuất khẩu, và để đạt tăng trưởng cao thì cần thúc đẩy xuất khẩu nhiều hơn nữa. Tuy nhiên, thực trạng xuất khẩu của ta vẫn chưa đóng góp thật sự và có chất lượng vào tăng trưởng bền vững.

Bằng chứng thứ nhất nằm ở cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của ta. Xuất khẩu đã tăng trưởng rất nhanh trong thời kỳ sau đổi mới, trung bình là 19%/năm. Nhưng cơ cấu xuất khẩu lại hầu như không có thay đổi quan trọng trong suốt thời gian đó, và chỉ thiên về sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến (như lúa gạo, cà phê, thủy sản) và khoáng sản (chủ yếu là dầu thô). Những mặt hàng nông nghiệp và khoáng sản thô này luôn có mặt trong nhóm mười mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ta, và chiếm đến trên 50% tổng giá trị xuất khẩu hơn 20 năm qua. Hàng công nghiệp chế biến lọt vào trong danh sách này là ba sản phẩm may, dệt, và giày dép, chiếm hơn 20% tổng giá trị xuất khẩu. Cần lưu ý là các mặt hàng công nghiệp chế biến này có hàm lượng giá trị gia tăng rất thấp. Các mặt hàng chủ yếu khác nằm ngoài tốp 10 này cũng lại là các sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến (như hạt điều, chè, cao su) và than. Tóm lại, cơ cấu xuất khẩu vẫn dựa chủ yếu vào khoáng sản, hàng nông nghiệp chưa chế biến, và hàng công nghiệp chế biến có giá trị gia tăng thấp, mặc dù có một số biến chuyển nhưng không đáng kể, đặc biệt là so với các nước Đông Á trong giai đoạn phát triển ban đầu của họ vào thập kỷ 1970 và 1980.

Lý do thứ hai ngăn cản xuất khẩu đóng góp tích cực vào tăng trưởng là các mối liên hệ ngược trở lại (backward linkages) giữa khu vực xuất khẩu với phần còn lại của nền kinh tế còn rất yếu ở ta. Trước tiên, cần thấy rằng ta đã thất bại trong việc xây dựng mạng lưới các ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ trực tiếp cho các hoạt động sản xuất để xuất khẩu. Một thí dụ dễ thấy về tình trạng này là trong ngành lúa gạo. Do sự yếu kém của công nghiệp xay xát, chế biến, một tỷ trọng lớn gạo Việt Nam xuất đi không được xử lý thích hợp nên giá gạo Việt Nam bao giờ cũng thấp hơn giá gạo Thái-lan từ 15-20%. Trong các ngành khác như cà phê, rau quả, thủy sản, tình hình cũng tương tự. Giá xuất khẩu thấp hơn có nghĩa là ta phải chịu thiệt thòi nhiều hơn cho cùng một lượng các nguồn lực khan hiếm dùng trong quá trình sản xuất so với đối thủ.

Hơn nữa, cần phải tỉnh táo nhìn nhận lại con số tăng trưởng ngoạn mục của một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong thời gian qua. Hầu như các nhà làm chính sách đều bỏ qua hoặc xem nhẹ thực tế là những mặt hàng xuất khẩu này, như da giày, may mặc, đều có giá trị gia tăng rất thấp, chủ yếu nằm ở tiền công gia công, vốn đã ở mức rẻ nhất trong khu vực. Có một phân tích cho thấy, Việt Nam chỉ được hưởng tổng cộng khoảng 5% lợi nhuận của một cái áo sơ mi xuất khẩu. Như vậy, nếu xét đến giá trị gia tăng thì đóng góp từ tăng trưởng xuất khẩu lên tăng trưởng kinh tế trên thực tế sẽ nhỏ hơn nhiều so với những gì vẫn tưởng nếu chỉ dựa vào doanh số xuất khẩu danh nghĩa. Và điều quan trọng hơn ở đây là, vì tỷ lệ giá trị gia tăng thấp nên Việt Nam buộc phải duy trì tăng trưởng xuất khẩu mạnh các mặt hàng này nhằm tăng tỷ trọng giá trị gia tăng của chúng góp vào GDP. Mà điều này có nghĩa là ta phải xuất khẩu ồ ạt (bằng các biện pháp trợ cấp xuất khẩu chẳng hạn) các mặt hàng giày dép, quần áo vào các thị trường chính quốc tế như Mỹ và EU, và tức là sẽ luôn phải đối mặt với hàng rào tự vệ thương mại do các nước này dựng lên, như các mức thuế trừng phạt mà EU đang tiến hành hiện nay.

Lý do thứ ba nằm ở mối quan hệ lỏng lẻo giữa chủ trương khuyến khích xuất khẩu và chủ trương công nghiệp hóa ở Việt Nam. Không giống như các nước Đông Á khác, nơi mà tăng trưởng kinh tế gắn liền với và được kéo đồng thời bởi cả hai quá trình tăng trưởng xuất khẩu và công nghiệp hóa, quá trình công nghiệp hóa nền kinh tế Việt Nam diễn ra rất chậm chạp. Mặc dù con số thống kê cho thấy tốc độ tăng trưởng công nghiệp là khá cao, nhưng cần lưu ý rằng nó bị “kéo” chủ yếu bởi tốc độ tăng trưởng của ngành khai khoáng (chủ yếu là dầu thô). Cần lưu ý thêm rằng chiến lược công nghiệp hóa dựa quá nhiều vào khai thác dầu thường không thành công, mà thí dụ điển hình là hai nước xuất khẩu dầu lửa lớn NigeriaVenezuela.

Bên cạnh đó, các ngành dệt may, da giày, chế biến lương thực và thực phẩm đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhất so với các ngành công nghiệp chế biến khác. Tuy nhiên, những ngành này sử dụng phần nhiều là lao động phổ thông từ nông thôn, thường chỉ được học nghề tại chỗ trong nhà máy trong một thời gian ngắn. Máy móc và thiết bị thường rất cũ kỹ, lạc hậu (thí dụ trong ngành chế biến lương thực), với quy mô sản xuất nhỏ bé. Vì vậy, chất lượng sản phẩm luôn là vấn đề trong những ngành này, và vì thế khó mà thuyết phục được rằng tăng trưởng nhanh của những ngành này đã đóng góp quan trọng vào tốc độ công nghiệp hóa ở ta.

Lý do cuối cùng nằm ở việc phân bổ không hợp lý các nguồn lực khan hiếm sang cho khu vực sản xuất để xuất khẩu. Như đã nói, vai trò của xuất khẩu dường như đã được đánh giá cao quá mức ở nước ta, thể hiện qua các mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu, năm sau thường phải cao hơn năm trước, được thực hiện bằng tất cả các biện pháp khuyến khích có thể có, mà bỏ quên việc phân tích lợi - hại đi kèm với quá trình khuyến khích xuất khẩu. Chính việc khuyến khích và trợ cấp xuất khẩu như vậy đã bóp méo giá cả là yếu tố phản ánh mức độ khan hiếm tương đối của các nguồn lực sản xuất, tập trung sản xuất để xuất khẩu ở những ngành Việt Nam không hoàn toàn có lợi thế, dẫn đến làm giảm tổng phúc lợi trong xã hội vì các nguồn lực đã bị sử dụng không hiệu quả.

Thay cho lời kết, bài viết này muốn cảnh tỉnh rằng thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu về danh nghĩa rõ ràng không phải là lời giải cho vấn đề tăng trưởng bền vững và nhanh trong tương lai, đặc biệt khi Việt Nam sắp gia nhập WTO và phải chấp nhận sự minh bạch trong chính sách và cuộc chơi bình đẳng. Ngoài những lý do nêu trên đây, còn có một lý do đơn giản nữa là tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ở Việt Nam đã đạt mức quá cao so với mức trung bình của thế giới và khu vực. Do đó, không thể tiếp tục duy trì xuất khẩu ở mức cao mãi như vậy được. Điều quan trọng hơn cho Việt Nam nếu muốn tiếp tục phát triển nhanh và bền vững trong tương lai là: (i) cơ cấu, chất lượng, và hàm lượng giá trị gia tăng trong hàng xuất khẩu, là những vấn đề đòi hỏi nhiều công sức để tạo chuyển biến tích cực; và (ii) những giải pháp về chính sách, trong số đó có những giải pháp giúp cải thiện năng suất và hiệu quả của khu vực sản xuất cho xuất khẩu.

search